Thứ Tư, ngày 05 tháng 6 năm 2013

Tài liệu tập huấn Kỹ thuật chăn nuôi gà - Phần 2

TÀI LIỆU TẬP HUẤN KỸ THUẬT CHĂN NUÔI GÀ - PHẦN 2
(TÀI LIỆU DÙNG CHO TẬP HUẤN VIÊN KHUYẾN NÔNG)

CHUYÊN ĐỀ 4
CHĂM SÓC VÀ NUÔI DƯỠNG
* Mục tiêu
Sau khi kết thúc chuyên đề này học viên sẽ:
- Hiểu được các yêu cầu kỹ thuật trong chăn nuôi gà sinh sản (hướng thịt, hướng trứng, thả vườn), chăn nuôi gà thịt công nghiệp, thả vườn.
- Tuyên truyền và áp dụng các biện pháp kỹ thuật để chăn nuôi các loại gà đảm bảo an toàn và đạt năng suất, chất lượng cao.
* Nội dung chính
Kỹ thuật chăm sóc nuôi dưỡng gà con, gà dò, gà đẻ trong chăn nuôi gà sinh sản (hướng thịt, hướng trứng, thả vườn).
- Kỹ thuật chăm sóc nuôi dưỡng gà thịt công nghiệp, thả vườn.
* Thời gian: 8 giờ
NỘI DUNGCHUYÊN Đ

I. THUẬT CHĂM SÓC VÀ NUÔI DƯỠNG GÀ SINH SẢN
Chăn nuôi gà sinh sản được chia làm 3 giai đoạn:
- Giai đoạn gà con
- Giai đoạn gà dò
- Giai đoạn gà đẻ
1. Kỹ thuật chăm sóc nuôi dưỡng gà con từ 0 đến 6 tuần
- Gà con mới nở được chuyển từ trạm ấp về ta cần quây lại, tạo cho chúng một môi trường sống tương đối ổn định và phù hợp, đặc biệt là yếu tố nhiệt độ vì khả năng điều tiết nhiệt của gà con còn rất kém. Do đó nuôi gà con từ 0 - 3 tuần  người ta gọi là úm gà.
- Úm gà yêu cầu phải rất cẩn thận và tỷ mỉ, đây là giai đoạn rất quan trọng. Mục tiêu là tạo cho đàn gà có một sự khởi đầu tốt nhất, đàn gà khỏe mạnh sẽ tạo tiền đề thuận lợi cho việc sinh trưởng và phát triển sau này.
1.1. Chuẩn bị úm gà
*Phòng úm
- Trước khi nhận gà 1 tuần chuồng trại phải được sát trùng kỹ lưỡng, có đủ bạt che kín xung quanh chuồng. Trước khi vào gà 2 - 3 ngày nền chuồng được rải chất độn bằng trấu hoặc dăm bào dày 8 -10 cm và sát trùng bằng foocmol 2%.
- Nếu nhận gà con vào mùa hè khi nhiệt độ bên ngoài trên 30°c thì không cần làm thêm phòng úm bên trong chuồng mà chỉ cần che kín bạt xung quanh là được.
- Nếu nhận gà con vào mùa đông khi nhiệt độ bên ngoài thấp thì bên trong chuồng cần làm thêm phòng úm để giữ nhiệt tốt cho gà. Phòng úm được quây kín bằng bạt và có trần bên trên, bạt xung quanh có thể mở ra dễ dàng để điều chỉnh độ thông thoáng trong phòng úm.
* Quây úm gà
- Quây gà có thể dùng các tấm cót ép, cót cật, tôn..... có chiều cao 0,5 m, quây vòng tròn có đường kính 2,8 - 3,0 m.
- Một quây gà nuôi được 400 gà con vào mùa hè và 500 con vào mùa đông. Quây gà được làm trong phòng úm, quây gà không nên làm ở gần cửa ra vào vì dễ bị gió lùa.
- Mùa hè ngày tuổi thứ 5 thì nới rộng quây và đến ngày thứ 10 thì có thể thao bỏ quây. Mùa đông ngày tuổi thứ 7 thì nới rộng quây và cuối tuần thứ 2 - 3 thì có thể tháo bỏ quây.
*Bố trí trong quây úm
- Khay, mẹt cho gà con ăn và máng uống nhỏ được bố trí xen kẽ nhau trong quây, đảm bảo cho gà con ăn uống được thuận tiện.
- Chụp sưởi có thể là bóng điện, bóng hồng ngoại, chụp sưởi gas... chụp sưởi thường treo ở giữa quây gà, treo cao 40 - 50 cm so với mặt nền.
1.2. Chăm sóc, nuôi dưỡng khi úm gà con
* Nhiệt độ
Khi úm gà điều quan tâm số 1 đó là yếu tố nhiệt độ, cần đảm bảo cho gà con luôn đủ ấm. Vì vậy trước khi nhận gà con về cần sưởi ấm phòng úm trước 3 – 6 giờ tùy vào nhiệt độ môi trường bên ngoài. Gà con đủ nhiệt sẽ ăn uống tốt, khỏe mạnh lớn nhanh và ít bệnh; nếu gà bị thiếu nhiệt khi úm thì sẽ ăn uống kém, hay mắc bệnh, nhiều gà còi cọc, tỷ lệ hao hụt cao.
Nhiệt độ thích hợp khi úm gà như sau:
+ Tuần tuổi thứ nhất: 31 - 33°c
+ Tuần tuổi thứ hai :29 - 31°c
+ Tuần tuổi thứ ba : 26 - 29°c
+ Tuần tuổi thứ tư : 22 - 26°c
- Tùy vào điều kiện nhiệt độ môi trường ngoài mà điều chỉnh nguồn sưởi cho thích hợp. Thời gian sử dụng nguồn sưởi cũng tùy vào điều kiện thời tiết bên ngoài.
- Cần thường xuyên kiểm tra nhiệt độ trong quây gà, có thể dùng nhiệt kế để theo dõi nhiệt độ, cũng có thể quan sát biểu hiện của đàn gà để điều chỉnh nguồn nhiệt cho phù hợp:
+ Nếu thiếu nhiệt đàn gà sẽ nằm dồn lại bên dưới chụp sưởi ít đi lại, ân uống kém, kêu nhiều... cần bổ sung thêm nguồn nhiệt.
+ Nếu thừa nhiệt thì đàn gà nằm tản ra xa chụp sưởi, sát vòng quây, cạnh máng uống, há mỏ để thở. Gà uống nhiều, ăn ít, cần giảm bớt nguồn nhiệt.
+ Nhiệt độ thích hợp gà phân tán đều trong quây đi lại, ăn uống bình thường.
+ Nếu gà tụm lại ở một phía trong quây là bị gió lùa cần che chắn hướng gió.
* Độ thông thoáng
Úm gà về mùa lạnh cần chú ý đảm bảo hài hòa giữa hai yếu tố nhiệt độ và độ thông thoáng của phòng úm. Nếu quá lưu ý đến yếu tố nhiệt độ mà quên đi yếu tố thông thoáng sẽ gây thiếu ôxy trong phòng úm, giảm khả năng trao đổi chất của gà. Một số hơi khí độc hại phát sinh từ phân gà không thoát được ra ngoài sẽ ảnh hưởng xấu đến gà con, gà con dễ bị mắc bệnh hô hấp, ăn kém và chậm lớn. Vì vậy trong những ngày úm chọn lúc nhiệt độ cao nhất trong ngày, ít gió lùa cần kéo rèm che thích hợp để tăng độ thông thoáng của phòng úm.
* Máng uống và cho uống
- Khi gà con mới nhận về cho uống nước ngay, bổ sung lgam Vitamin C + 50 gam đường gluco/1 lít nước, cho gà con uống trong ngày đầu. Sau đó cho uống Vitamin tổng hợp. Cần lưu ý gà con lúc này còn uống rất ít nước nên khi pha nước thì pha ít một, gà uống hết ta lại pha tiếp cho đảm bảo vệ sinh.
- Gà con giai đoạn úm cho uống bằng máng ga lon hoặc máng nhựa loại 2 lít, sau 2 - 3 tuần cho uống bằng máng dài hoặc máng tự động. Không để gà nhảy lên làm nước rơi vãi ướt nền chuồng. Đối với gà thả vườn thì máng uống để ở các gốc cây bóng mát trong vườn, đảm bảo cho gà dễ dàng tìm thấy nước uống.
* Máng ăn và cho ăn
- Gà con nhận về cho uống nước trước và cho ăn sau, khi cho ăn cần rắc một lượng thức ăn mỏng trên khay, mẹt để cho gà ăn hết lại rắc tiếp lần khác. Gà con úm 2 tuần đầu cần cho ăn 9 -10 lần/ngày, trước khi cho ăn nếu còn thức ăn trong khay thì cần sàng loại bỏ phân và chất độn chuồng lẫn vào thức ăn.
Mật độ như sau:
+ 100 gà/khay có kích thước 70 X 70cm
+ 75 gà/khay có kích thước 60 X 70cm
+ 50 gà/khay có kích thước 50 X 50cm
- Thức ăn cho gà úm nên dùng thức ăn hỗn hợp dạng mảnh của các hãng sản xuất sẽ có hiệu quả hơn. Cũng có thể phối trộn bằng thức ăn đậm đặc với các nguyên liệu sẵn có khác theo hướng dẫn. Cần sử dụng đúng chất lượng thức ăn theo tuổi gà và giống gà.
- Sau 2 tuần có thể tập và chuyển dần cho gà sang ăn bằng các loại máng tròn P50 bằng tôn hoặc bằng nhựa, chú ý đảm bảo đủ chỗ ăn cho gà. Máng ăn treo cao ngang tầm sống lưng gà. Máng được lau chùi sạch sẽ hàng ngày và tiêu độc tuần 1 lần.
- Đối với gà hướng thịt từ 1 - 3 tuần tuổi cho gà ăn tự do cả ngày lẫn đêm, sau 3 tuần tuổi tùy thuộc vào khối lượng cơ thể đạt được so với tiêu chuẩn giống mà có thể chỉ cho ăn tự do ban ngày hay thêm một ít thời gian ban đêm. Tùy thuộc vào khả năng thu nhận thức ăn và lượng thức ăn cần cung cấp của từng giống gà mà giảm dần số lần cho ăn trong ngày cho phù hợp. Đối với gà hướng trứng thời gian ăn tự do lâu hơn, tùy thuộc vào khối lượng đạt được so với chuẩn vì khả năng thu nhận thức ăn của gà hướng trứng kém hơn.
- Tuần thứ 6 tiến hành chuyển từ thức ăn gà con sang thức ăn gà dò, Chú ý chuyển từ từ bằng cách trộn đều thức ăn của hai loại theo tỷ lệ qua các ngày như sau:
Ngày chuyển thức ăn
Thức ăn gà con (%)
Thức ăn gà dò (%)
Ngày thứ 1
75
25
2
75
25
3
50
50
4
50
50
5
25
75
6
25
75
7
0
100
Tuy nhiên cũng có thể cho ăn thức ăn gà con thêm một vài tuần nếu khối lượng cơ th chưa đạt theo yêu cầu, đc biệt là gà thả vườn và gà hướng trứng.
* Mật độ nuôi
- Mật độ nuôi thay đổi theo mùa, mùa đông mật độ nuôi thường cao hơn mùa hè. Cần chuẩn bị diện tích chuồng nuôi để đảm bảo mật độ nuôi theo tuổi gà như sau:
+ Gà hướng thịt: 9-10 gà/m2 nền
+ Gà hướng trứng: 10-11 gà/m2 nền
 * Ánh sáng
Khi úm gà có thể sử dụng bóng điện vừa chiếu sáng vừa sưởi ấm cho gà. Nếu sử dụng nguồn sưởi bằng bóng hồng ngoại, chụp gas thì cần bổ sung thêm bóng sáng để kích thích khả năng tiêu thụ thức ăn của gà.
Từ 1 - 3 tuần chiếu sáng cả ngày lẫn đêm để cho gà ăn, từ tuần 4-6 tùy vào lượng thức ăn cần cung cấp cho gà mà chỉ sử dụng ánh sáng ban ngày hay bổ sung ban đêm để cho gà ăn hết khẩu phần.
1.3. Một số điểm cần lưu ý
* Đối với chất độn chuồng
Cần thường xuyên đảo đều, hót chất độn chuồng ẩm ướt, phân bết ở xung quanh máng ăn, máng uống và bổ sung chất độn chuồng mới.
* Cắt mỏ gà
Để tránh hiện tượng gà mổ cắn nhau, người ta tiến hành cắt mỏ gà vào lúc 10-12 ngày tuổi, cũng có thể tiến hành muộn hơn tùy thuộc vào sức khỏe đàn gà, có thể cắt bằng máy cắt mỏ hoặc dùng dao con nung đỏ rồi cắt. Khi cắt cần lưu ý cất 1/3 mỏ trên và là kỹ để tránh chảy máu, đối với gà trống cần cắt rất cẩn thận để cho mỏ bằng tạo điều kiện thuận lợi cho việc đạp mái sau này.
* Khi chăn thả
Đối với giống gà nuôi thả vườn, gà con sau 4 tuần tuổi có thể thả ra vườn, đồi để gà vận động và tìm kiếm thêm thức ăn sẵn có trong vườn, trên đồi. Tuy nhiên khi mới bất đầu thả gà con ra vườn cần lưu ý thả tăng dần thời gian và diện tích chăn thả, chỉ thả khi vườn khô ráo, thời tiết ấm áp, để cho gà làm quen dần với môi trường bên ngoài.
2.Kỹ thuật chăm sóc nuôi dưỡng gà dò từ 7 đến 20 tuần
2.1. Mật độ nuôi
- Giai đoạn gà dò nuôi tách riêng trống, mái
- Duy trì mật độ nuôi thích hợp để đảm bảo sức khoẻ và sức sản xuất sau này cho đàn gà cụ thể như sau:
- Gà trống: 3-4 con/m2 nền.
- Gà mái: 5-6 con/m2 nền.
2.2. Máng ăn và cho ăn
Sử dụng máng ăn tròn bằng tôn hoặc bằng nhựa đảm bảo mật độ 13 gà/máng.
* Cho ăn hạn chế
- Ngay từ tuần tuổi thứ 4 trở đi đối với gà chuyên dụng thịt cao sản và tuần thứ 6 đối với gà kiêm dụng thịt lông màu, cần căn cứ vào khối lượng cân kiểm tra hàng tuần mà đưa ra mức ăn cho tuần kế tiếp. Mục tiêu là đạt khối lượng cơ thể chuẩn và độ đồng đều cao.
- Đối với gà hướng thịt nuôi nhốt, gà thả vườn cho ăn 1 lần/ngày vào buổi sáng. Chú ý đổ thức ăn nhanh và rải đều tất cả các máng để toàn bộ gà trong ô chuồng được ăn một lượng thức ăn đều nhau, đảm bảo độ đồng đều cho đàn gà. Đối với gà hướng trứng tùy thuộc vào thời gian thu nhận thức ăn mà cho ăn 2 - 3 lần ngày.
- Sử dụng đúng số lượng, chất lượng thức ăn theo tuần tuổi của gà. Có thể sử dụng thức ăn hỗn hợp chế biến sẵn, thức ăn đậm đặc của nhà máy sản xuất hoặc tự phối chế dựa vào tiêu chuẩn thức ăn được khuyến cáo.
2.3. Máng uống và cho uống
Dùng máng uống dài thủ công, máng chuông hoặc núm uống tự động đảm bảo gà được uống nước đều cùng một lúc. Mật độ như sau:
+ Máng dài thủ công (loại 1,5 m): 100 con/máng
+ Máng chuông: 60 - 80 con/máng
+ Máng tự động: 8-10 con/núm
- Đối với gà hướng thịt nuôi nhốt, thả vườn giai đoạn này cho ăn hạn chế rất nghiêm ngặt vì vậy cần giảm bớt lượng nước uống cho gà để tránh làm ướt chất độn chuồng. Tuy nhiên mùa hè nếu nhiệt độ môi trường trên 33°C thì cần cho gà uống nước tự do.
2.4. Kiểm soát khối lượng và độ đồng đều của đàn gà
Sau 3 tuần tuổi phải kiểm tra khối lượng và độ đồng đều của đàn gà. Hàng tuần vào một ngày nhất định, trước khi cho ăn, cân ngẫu nhiên 10% số lượng gà (tối thiểu là 50 con) ở mỗi ô chuồng để tính khối lượng trung bình và độ đồng đều của đàn gà, từ đó điều chỉnh số lượng thức ăn cung cấp cho gà một cách hợp lý dựa vào bảng định lượng thức ăn và khối lượng cơ thể được khuyến cáo.
Tiến hành phân đàn theo khối lượng để có chế độ cho ăn hợp lý nhằm nâng cao độ đồng đều. Đàn gà được coi là đồng đều khi độ đồng đều đạt > 80%. Công thức tính độ đồng đều như sau:
                                   Số con trong khoảng khối lượng trung bình ± (10 - 15%)
Độ đồng đều (%) =----------------------------------------------------------- ---------X 100
Tổng số con được cân

* Những biện pháp nhằm nâng cao độ đồng đều
- Mật độ thích hợp, có đủ máng ăn đảm bảo tất cả gà trong ô được ăn cùng một lúc.
- Thời gian đổ thức ăn nhanh đều khắp trong các máng (ô gà nuôi khoảng 400 con, không quá 4 phút).
- Cắt mỏ đúng kỹ thuật.
- Phân đàn và cho ăn theo khối lượng.
2.5. Ánh sáng
Giai đoạn gà dò nếu nuôi chuồng hở thì sử dụng hoàn toàn ánh sáng tự nhiên, nếu nuôi trong chuồng kín cần đảm bảo 8-9 giờ chiếu sáng/ngày.
2.6. Chất độn chuồng
- Định kỳ xới đảo, bổ sung chất độn chuồng để đảm bảo độ dày cần thiết và làm cho chất độn chuồng luôn khô ráo, tơi xốp.
- Thường xuyên kiểm tra chất độn chuồng nếu bị ướt phải hót ra ngoài và bổ sung lại chất độn chuồng mới.
- Thường xuyên quét và hót lông gà ra ngoài, đốt theo quy định của thú y.
2.7. Chọn lọc và ghép trống mái
- Đối với gà hướng thịt ở cuối tuần tuổi 20, gà hướng trứng cuối tuần 18, tiến hành chọn lọc trước khi chuyển lên đẻ. Loại bỏ gà gầy yếu, dị tật, không đủ tiêu chuẩn giống.
- Ghép trống mái ở tuần tuổi 20-21 đối với gà hướng thịt; tuần 18 - 19 với gà hướng trứng theo tỷ lệ sau:
+ Gà hướng thịt: 1 trống/9 - 10 mái
+ Gà hướng trứng: 1 trống/11-12 mái
Lưu ý khi chọn gà trống cần chọn những con khỏe mạnh, mào tích phát triển, chân, mỏ thẳng, cơ thể săn chắc.
3. Chăm sóc nuôi dưỡng giai đoạn gà đẻ
3.1. Mật độ nuôi
- Chuồng nuôi hở cần đảm bảo mật độ như sau:
+ Gà hướng thịt: 3-3,5 gà/m2 nền.
+ Gà hướng trứng: 4,0-4,5 gà/m2 nền.
- Chuồng nuôi kín:
+ Gà hướng thịt: 4,0 - 4,5 gà/m2 nền.
+ Gà hướng trứng: 5,5-6,0 gà/m2 nền.
3.2. Ánh sáng
- Kích thích chiếu sáng lúc 20 tuần tuổi đối với gà hướng thịt; 18 tuần tuổi đối với gà hướng trứng và tăng dần mỗi tuần lgiờ cho đến khi đạt 16 giờ chiếu sáng/ngày đêm. Cần tuân thủ nguyên tắc không giảm ánh sáng trong suốt thời kỳ đẻ.
- Dùng bóng điện có công suất 40W để thắp sáng cho gà. Bóng đèn được treo ở độ cao 2m so với nền chuồng, đảm bảo công suất chiếu sáng 4W/m2 nền.
3.3. Máng uống và cho uống
- Dùng máng uống dài thủ công, máng chuông hoặc máng tự động đảm bảo mật độ như sau:
+ Máng dài thủ công (loại 1,5 m): 80 con/máng
+ Máng chuông: 50 - 60 con/máng
+ Máng tự động: 6-8 con/núm
Máng uống kê cao ngang tầm sống lưng gà, có chụp máng để hạn chế gà làm đổ nước ra nn chuồng.
- Hàng ngày rửa máng cho gà uống 2-3 lần, đảm bảo luôn có đủ nước sạch cho gà. Hàng tuần vệ sinh tiêu độc máng 1 lần.
3.4. Máng ăn và cho ăn
Sử dụng máng ăn tròn P50 đảm bảo mật độ 15 - 17 gà/máng, cho gà ăn 1 - 2 lần/ngày và lắc đảo máng nhiều lần để kích thích gà ăn ngon miệng. Gà trống cho ăn 1 lần/ngày.
- Gà đẻ chuyên thịt cao sản cho ăn tách riêng trống mái bằng cách sử dụng máng ăn riêng cho gà trống và gà mái. Máng ăn gà trống treo cao, máng ăn gà mái có chụp khống chế (kích thước khe hở chụp máng: cao 60 mm, rộng 45 mm).
- Chuyển thức ăn từ thức ăn gà dò sang thức ăn gà đẻ ở tuần tuổi 21 đối với gà hướng thịt; tuần tuổi 19 đối với gà hướng trứng. Cách chuyển tương tự như chuyển thức ăn gà con sang thức ăn gà dò.
    - Lượng thức ăn cung cấp cho gà theo tỷ lệ đẻ và định mức cho từng giống gà.
3.5. Ổ  đẻ và nhặt trứng
- Sử dụng ổ đẻ 2 tầng mỗi tầng 5 ngăn; đảm bảo mật độ 5 gà/ngăn. .
- Ổ đẻ có thể kê hai bên vách lưới ngăn ô chuồng, chuồng kín kê ổ đẻ dọc theo chuồng để không cản trở lưu thông gió, lưu ý tránh kê ổ đẻ những nơi quá sáng. Ổ được kê với độ cao từ 25 - 30 cm so với nền chuồng. Các ngăn ổ đẻ luôn phải có đủ dăm bào hoặc trấu sạch với độ dày 5cm. Ổ đẻ được vệ sinh sạch sẽ hàng ngày và tiêu độc tuần 1 lần.
- Hàng ngày thu nhặt trứng ít nhất 4 lần để hạn chế trứng bị bẩn và dập vỡ. Khi nhặt trứng cần phải cẩn thận, nhẹ nhàng; khi xếp trứng vào khay xếp đầu nhỏ xuống dưới.
Trứng được để ở nơi khô ráo, sạch sẽ, thoáng mát và không nên xếp cao quá 6 khay. Hàng ngày trứng giống được xông sát trùng và chuyển vào kho bảo quản. Không nên bảo quản trứng giống quá 1 tuần, bảo quản trứng giống tốt nhất ở nhiệt độ 15 - 18°C, độ ẩm 75 - 80%.
3.6. Chống nóng cho gà
- Gà đẻ chịu nóng rất kém, về mùa hè nếu nhiệt độ chuồng nuôi lớn hơn 34°C gà có thể bị chết nóng, tỷ lệ đẻ của đàn gà giảm xuống rất nhanh. Cần áp dụng biện pháp chống nóng kịp thời cho đàn gà đẻ như sau:
- Ngay từ sáng sớm cần pha VitaminC, chất điện giải... vào nước cho gà uống.
- Cho gà ăn vào ban đêm hoặc sáng sớm.
- Dùng quạt trần, quạt thông gió và phun nước lên mái nhà.
- Khi gà ăn giảm 5 - 10% lượng thức ăn hàng ngày cần tăng chất lượng thức ăn với mức 100 Kcal năng lượng trao đổi và 1,5 - 2% protein thô/kg thức ăn.
4. Quản lý, theo dõi đàn gà
- Hàng ngày quan sát đàn gà để có biện pháp xử lý kịp thời khi đàn gà ăn uống kém hoặc có triệu chứng bị bệnh.
- Quan sát và bắt kịp thời gà bị mổ cắn để bôi thuốc xanh-mêtylen sát trùng và có chế độ chăm sóc riêng. Trường hợp gà mổ cắn nhiều có thể tiến hành cắt mỏ lại cho gà mái hoặc dùng các biện pháp tổng hợp để hạn chế gà mổ cắn.
- Mỗi ô chuồng nuôi phải có sổ ghi chép đầu con, thức ăn, trứng sản xuất và biến động của đàn gà từng ngày. Ghi chép số liệu phải đầy đủ, chính xác và liên tục.
- Định kỳ loại thải những gà mái đẻ kém, ấp bóng.
- Đối với gà thả vườn cần đảm bảo mật độ 1 con/m2 vườn. Vườn chăn thả phải sạch sẽ, thoát nước tốt và có cây bóng mát. Có thể nuôi giun, trồng rau để cung cấp thêm thức ăn cho gà.

Định lượng thức ăn và khối lượng cơ thể (KLCT) của gà b mẹ Ross 308
Tuần
tuổi
trống (g)
Gà mái (g)
KLCT
/ con/ngày
KLCT
TĂ/con/ngày
1
150
26
115
25
2
310
36
215
29
3
505
44
335
33
4
720
54
450
39
5
900
61
560
44
6
1.075
66
660
46
7
1.215
67
760
48
8
1.345
68
860
50
9
1.465
70
960
52
10
1.585
73
1.060
54
11
1.705
75
1.160
56
12
1.825
77
1.260
58
13
1.945
79
1.360
60
14
2.065
82
1.460
62
15
2.185
84
1.560
65
16
2.305
88
1.670
70
17
2.435
93
1.790
75
18
2.580
97
1.915
81
19
2.730
101
2.050
88
20
2.880
106
2.195
96
21
3.080
111
2.345
104
22
3.180
116
2.500
113
23
3.330
120
2.660
121
24
3.480
124
2.820
130
25
3.620
127
2.975
139
26
3.745
130
3.120
147
27
3.815
132
3.245
156
28
3.865
133
3.340
165
29
3.895
133
3.395
165
30
3.925
134
3.435
165
31
3.955
134
3.465
165
32
3.985
135
3.490
165
33
4.015
135
3.510
165
34
4.045
136
3.525
165
35
4.075
136
3.540
165
36
4.105
1367
3.555
164
37
4.135
137
3.570
164
38
4.165
138
3.585
163
39
4.195
138
3.600
163
40
4.225
109
3.615
162
41
4.255
139
3.630
162
42
4.285
140
3.645
161
43
4.315
140
3.660
160
44
4.345
141
3.675
160
45
4.375
141
3.690
159
46
4.405
142
3.705
159
47
4.435
142
3.720
158
48
4.465
143
3.735
158
49
4.495
143
3.750
157
50
4.525
144
3.765
156
51
4.555
144
3.780
156
52
4.585
145
3.795
155
53
4.615
145
3.810
155
54
4.645
146
3.825
154
55
4.675
146
3.840
154
56
4.705
147
3.855
153
57
4.735
147
3.870
152
58
4.765
148
3.885
152
59
4.795
148
3.900
151
60
4.825
149
3.915
151
61
4.865
149
3.930
150
62
4.885
150
3.945
150
63
4.915
150
3.960
149
64
4.945
151
3.975
148

Định lượng thức ăn và KLCT của gà b mẹ TĐ (Sasso)
Tuần
tuổi
trống (g)
Gà mái (g)
KLCT
TĂ / con/ngày
KLCT
TĂ/con/ngày
1
134
15
120
19
2
285
28
250
33
3
440
38
400
44
4
615
45
550
50
5
790
52
685
55
6
965
57
810
59
7
1.135
60
910
63
8
1.300
64
1.010
66
9
1.460
67
1.110
69
10
1.645
72
1.210
73
11
1.765
76
1.310
76
12
1.915
83
1.410
79
13
2.065
88
1.510
83
14
2.215
92
1.610
86
15
2.365
96
1.710
90
16
2.515
101
1.810
94
17
2.665
105
1.910
98
18
2.815
112
2.010
105
19
2.965
117
2.130
110
20
3.115
123
2.250
115
21
3.265
128
2.370
120
22
3.415
134
2.490
125
23
3.565
145
2.610
135
24
3.715
145
2.730
145
25
3.855
145
Cho ăn theo tỷ lệ đẻ
26
3.975
145
Tỷ lệ đẻ (%)
TĂ/con/ngày
27
4.065
145
0-5
145
28
4.125
145
5-20
153
29
4.155
145
20-35
161
30
4.175
145
35-45
165
31
4.195
145
>80
167
35
4.255
145
80-75
165 - 163
40
4.330
145
75-70
163-161
45
4.405
145
70-60
160
50
4.480
145
65-60
157
55
4.555
145
<60
153
60
4.630
145



Định lượng thức ăn và KLCT của gà bố mẹ LV (Lương Phượng)
Tuần
tuổi
trống (g)
Gà mái (g)
KLCT
TĂ / con/ngày
KLCT
TĂ/con/ngày
1
115
Ăn tự do
115
Ăn tự do
2
205
205
3
355
355
4
495
495
5
560
560
6
710
60
610
47
7
910
65
745
49
8
1.055
70
960
55
1
1.130
75
1.005
60
10
1.280
80
1.160
68
11
1.480
85
1.280
7575
12
1.540
87
1.390
83
13
1.660
90
1.445
88
14
1.790
95
1.565
92
15
1.930
100
1.745
95
16
2.065
105
1.805
98
17
2.230
110
1.890
107
18
2.560
120
2.080
110
19
2.755
125
2.100
115
20
2.880
125
2.250
120
21


-
130
22


-
135
23


-
139
24-33


-
145
34


-
143
43


-
140
51


-
138
59


-
135

Định lượng thức ăn và KLCT của gà đẻ trứng thương phẩm ISA Brown
Tuần
tuổi
KLCT
TĂ/con/ngày
Tuần
tuổi
KLCT
TĂ/con/ngày
1
65-68
11
16
1.350-1.410
76
2
110- 120
17
17
1.430-1.505
80
3
195-210
25
18
1.500-1.600
84
4
285 - 305
32
19
1.580
85
5
380-400
37
20
1.640
95
6
470 - 500
42
21
1.705
105
7
560 - 590
46
22
1.755
109
8
650 - 680
50
23
1.790
111
9
740 - 775
54
24
1.805
112
10
830 - 865
58
25
1.818
113
11
920-960
61
26-30
1.870
114
12
1.010-1.050
64
31-49
1.950
113
13
1.095 - 1.140
67
50-69
1.985
112
14
1.180-1.230
70
70-80
2.000
111
15
1.265- 1.320
73




II. CHĂM SÓC NUÔI DƯỠNG GÀ THỊT
1. Chăm sóc nuôi dưỡng gà thịt công nghiệp
- Kỹ thuật úm từ 0 - 3 tuần tuổi tương tự như gà sinh sản hướng thịt.
- Cho gà ăn, uống tự do cả ngày lẫn đêm. Thức ăn theo độ tuổi.
- Chuồng nuôi ấm áp về mùa đông, mát mẻ về mùa hè. Đảm bảo độ thông thoáng, sạch sẽ.
- Tránh Mọi yếu tố gây stress cho đàn gà.
- Nếu có điều kiện phân biệt được trống mái 1 ngày tuổi thì nuôi tách riêng trống mái. Nuôi tách riêng trống mái có ưu điểm là hạn chế hoàn toàn sự lấn át của gà trống đối với gà mái. Ngoài ra sau 2 tuần tuổi ta cho gà mái ăn thức ăn có tỷ lệ protein thấp hơn 2% so với thức ăn cho gà trống, từ đó tiết kiệm được nguốn thức ăn giàu protein và hạ giá thành thức ăn.
- Nuôi gà ở mật độ vừa phải (8-10 con/m2 nền).
-Thường xuyên kiểm tra và hót chất độn chuồng ẩm ướt ra ngoài và bổ sung chất độn chuồng mới, nếu quá bẩn thay chất độn chuồng mới.
- Mùa hè cần chú ý các biện pháp chống nóng cho gà như: cho gà ăn vào ban đêm và sáng sớm, cho uống vitamin C, chất điện giải, uống đầy đủ nước mát, dùng quạt lưu thông gió, phun mưa làm mát mái chuồng...
2. Chăm sóc nuôi dưỡng gà thịt thả vườn
- Kỹ thuật úm từ 0 - 3 tuần tuổi tương tự như gà sinh sản hướng thịt.
- Cho ăn tự do cả ngày lẫn đêm đến 5-6 tuần tuổi, sau đó chỉ cho ăn vào ban ngày.
- Sau 4-5 tuần tuổi gà được thả ra vườn, đồi. Ngày cho ăn 2 - 3 lần vào sáng, trưa, tối. Cần lưu ý khi mới bắt đầu thả ra vườn, đồi...phải thả tăng dần về thời gian để cho gà làm quen với môi trường chăn thả.
- Cho gà uống nước đầy đủ, sạch sẽ.
- Mật độ nuôi 10-12 con/m2 nền, đảm bảo chuồng nuôi sạch sẽ, khô ráo.
- Mật độ chăn thả tối thiểu 1 con/m2 vườn. Vườn chăn thả phải sạch sẽ, thoát nước tốt và có cây bóng mát.
- Có thể nuôi giun, trồng rau, cỏ để cung cấp thêm thức ăn cho gà.
- Trước khi bán gà 15 ngày cần hạn chế chăn thả và cho gà ăn tự do để gà nhanh béo


HUỚNG DẪN LẬP KẾ HOẠCH BÀI GIẢNG
CHUYÊN ĐỀ 4: THỨC ĂN VÀ DINH DƯỠNG
TT
Nội dung
Thời
Lượng
Phương pháp
Phương tiện hỗ trợ/Vật tư thực hành
Câu hỏi gợi ý/ Thảo
Luận
1
Khởi động
10'
Giới thiệu tập huấn viên, học viên


2
Giới thiệu nội dung bải giảng
10'
Thuyết trình


3
Chăm sóc nuôi dưỡng gà con
140'
- Thuyết trình + thảo luận nhóm 
- Chia lớp thành 3 nhóm, thảo luận và trình bày 3 nội dung.
Tập huấn viên nhận xét và tổng hợp.
- Máy chiếu, giấy Ao, bút dạ, kẹp, bảng.
- Một số hình ảnh quây úm gà con, thiết bị sưởi, máng ăn, máng uống...
- Hình ảnh hoặc mô phỏng bằng hình vẽ cách bố trí trong quây úm, biểu hiện của đàn gà khi thiếu nhiệt, thừa nhiệt, đủ nhiệt
- Điều kiện cần thiết để úm gà, đặc biệt là vào mùa đông?
- Nhiệt độ thích hợp cho gà con 0 - 3 tuần. Cách phát hiện và xử lý khi gà con trong quây bị nóng quá, lạnh quá, gió lùa?
- Máng ăn, máng uống và cách thức cho ăn, cho uống trong khi úm gà?
4
Chăm sóc nuôi dưỡng gà dò
140'
-Thuyết trinh + thảo luận nhóm
-Chia lớp thành 3 nhóm, thảo luận và trình bày 3 nội dung.
Tập huấn viên nhận xét và tổng hợp.
Máy chiếu, giấy Ao, bút dạ, bảng
Một số hình ảnh đàn gà nuôi nhốt, thả vườn.
- Những lưu ý khi chăn thả gà ngoài vườn. Tại sao phải cho ăn hạn chế?
-Cách kiểm tra khối lượng cơ thể và độ đồng đều. Biện pháp nâng cao độ đồng đều.
- Chọn lọc gà lên đẻ; thời điểm và tỷ lệ ghép trống mái?
5
Chăm sóc nuôi dưỡng gà đẻ
90'
Thuyết trình + dộng não
- Máy chiếu
- Hình ảnh một số đàn gà đẻ nuôi nhốt, thả vườn.
- vKhay đựng trứng, trứng gà.
- Hình ảnh thiết bị chống nóng.
- Thu nhặt trứng và vệ sinh ổ đẻ?
- Biện pháp chống nóng cho gà đẻ hướng thịt?
6
Chăm sóc nuôi dưỡng gà thịt công nghiệp
30'
Thuyết trình + động não
- Máy chiếu
- Một số hình ảnh đàn gà nuôi nhốt.
-Thức ăn cho gà thịt công nghiệp?
-Mật độ nuôi nhốt gà thịt công nghiệp?
7
Chăm sóc nuôi dưỡng gà thịt thả vườn
30’
Thuyết trình + động não
- Máy chiếu.
- Hình ảnh nuôi gà thả vườn, đồi.
- Vườn chăn thả và mật độ chăn thả?
- Các nguồn thức ăn bổ sung trong chăn nuôi gả thả vườn?
8
Tổng kết bài giảng
30'

Các nội dung chính cẩn tổng kết:
-Nuôi úm gà con.
-Hạn chế thức ăn cho gà.
 -Kiểm soát khối lượng và độ đồng đều gà sinh sản hậu bị.
-Chống nóng cho gà đẻ.


CHUYÊN ĐỀ 5
KỸ THUẬT ẤP TRỨNG

Mục đích
Sau khi học xong chuyên đề này học viên sẽ:
-              Nắm bắt được những điều kiện cần thiết khi xây dựng trạm ấp.
-              Nhận biết được yêu cầu về vệ sinh thú y đối với một trạm ấp.
-               Nắm được kỹ thuật ấp trứng gà bằng máy ấp công nghiệp và bán công nghiệp.
-               Nhận biết được kỹ thuật phân loại gà con 1 ngày tuổi, đóng gói bảo quản và vận chuyển gà con 1 ngày tuổi.
Những nội dung chính
-               Vị trí xây dựng trạm ấp
-               Vệ sinh thú y trạm ấp
-               Kỹ thuật ấp trứng
-               Phân loại, đóng gói, bảo quản và vận chuyển gà con.
Thời gian: 8 giờ

PHẦN I. ĐIỀU KIỆN TRẠM ẤP

I. VỊ TRÍ XÂY DỰNG TRẠM ẤP   
Thông thường trạm ấp nằm trong hệ thống của một trại chăn nuôi bao gồm khu vực chăn nuôi và khu trạm ấp. Tuy nhiên cũng có nhiều trạm ấp được xây dựng ở một nơi riêng biệt, ở đó là vị trí trung tâm để giao sản phẩm gà con tới các cơ sở chăn nuôi được thuận tiện. Cho dù ở địa điểm nào thì trạm ấp cũng cần đảm bảo các điều kiện sau:
-               Trạm ấp được xây dựng trên vị trí cao ráo, thoáng về mùa hè, ấm áp về mùa
đông.
-               Cách khu chăn nuôi, cách khu dân cư càng xa càng tốt, tối thiểu là 300m.
-               Có nguồn điện ổn định phục vụ cho hoạt động của trạm ấp.
-               Có nguồn nước sạch cung cấp thường xuyên cho trạm ấp.
-                Trạm ấp phải nằm ở vị trí thuận tiện cho việc chuyển trứng về ấp và chuyển gà con đến nơi tiêu thụ.
-               Có hàng rào bao quanh khu vực trạm ấp, có cổng sát trùng, có nhà tắm, nhà thay quần áo cho công nhân và khách tham quan.
Ngoài ra cấu trúc của một trạm ấp cần có các hạng mục sau: nhà lắp đặt máy ấp, máy nở, kho bảo quản trứng, phòng chọn phân loại và tiêm chủng gà, phòng giao gà, bể chứa nước sạch dùng cho việc tạo ẩm và vệ sinh dụng cụ trạm ấp...
II. VỆ SINH THÚ Y TRẠM ẤP
Để đảm bảo vệ sinh, trạm ấp phải thường xuyên được cọ rửa sát trùng, không chỉ phương tiện, dụng cụ và trang thiết bị mà ngay cả con người cũng cần phải vệ sinh sát trùng sạch sẽ trước khi vào trạm ấp. Có như vậy trạm ấp mới an toàn về mặt dịch bệnh và vệ sinh sát trùng mới đạt được hai mục đích chính là:
-               Góp phần cho một tỷ lệ ấp nở cao.
-               Đảm bảo cho đàn gà con nở ra khỏe mạnh và sạch bệnh.
1. Nội qui vệ sinh tại trạm ấp
Nội qui của các trạm ấp có thể không hoàn toàn giống nhau do sự khác biệt về cơ sở vật chất, kỹ thuật cũng như điều kiện thực tế cho phép. Tuy nhiên mỗi trạm ấp nếu có điều kiện cần thực hiện những yêu cầu sau:
-                   Mọi người ra vào trạm ấp phải đi qua khu vực sát trùng; phải tắm gội, thay quần áo, giày dép riêng của trạm ấp đã được sát trùng.
-                      Không cho các loại động vật khác hoặc mang các đồ dùng, vật dụng có khả năng truyền bệnh cho gà vào trạm ấp.
-                Người làm việc ở trạm ấp nếu không có phận sự thì không nên đi lại sang khu vực khác.
-               Khách đến tham quan phải chấp hành đầy đủ nội qui của trạm ấp, theo hướng dẫn của người phụ trách.
-               Các loại xe cộ, phương tiện khác mổi khi vào trạm ấp phải được phun sát trùng.
2.Vệ sinh sát trùng trạm ấp
-                                     Phòng đật máy ấp, máy nở, phòng chọn gà con, phòng chọn xếp trứng, kho bảo quản trứng... hàng ngày sau khi kết thúc công việc phải được cọ rửa, lau sàn nhà, nếu có trứng rơi vỡ phải lau ngay chỗ đó và lau lại bằng thuốc sát trùng.
-                                      Hàng tuần phải quét mạng nhện ở trần nhà, góc tường... Rửa nhà, tường, cửa sổ, cửa ra vào của các phòng trong trạm ấp. Quét bụi trên nóc máy ấp, máy nở.
-                                    Hàng tháng phải tổng vệ sinh trạm ấp một lần: cọ rửa, phun thuốc sát trùng hoặc xông sát trùng đối với các phòng nhỏ.
-                                     Phải thường xuyên quét dọn, cọ rửa sạch sẽ hành lang, sân trạm ấp, thông cống rãnh tiêu nước thải của trạm ấp.
-                                    Cọ rửa vệ sinh sát trùng bể chứa nước của trạm ấp 6 tháng một lần .
-                                     Các loại rác thải, vỏ trứng... của ngày nào phải mang đi đổ ngay ngày đó vào nơi qui định để xử lý.
3.Vệ sinh máy ấp, máy nở
3.1. Máy ấp đa kỳ
   Vì luôn có trứng ở bên trong nên máy ấp đa kỳ không được vệ sinh cọ rửa thường xuyên. Do đó phải hết sức giữ máy sạch sẽ và thực hiện nghiêm ngặt mọi qui định về vệ sinh sát trùng đối với máy.
Mỗi khi có một đợt trứng mới vào máy, đợi cho máy đạt nhiệt độ và ẩm độ cần thiết thì tiến hành xông sát trùng theo liều lượng 9 gam thuốc tím + 18cc formol/lm3 thể tích máy trong 30 phút. Khi xông cần đóng kín cửa máy, các cửa thông thoáng của máy để đảm bảo nồng độ xông.
Hàng ngày phải quét sạch sàn máy, trong quá trình ấp nếu có trứng vỡ trong máy phải lau dọn và sát trùng chỗ đó ngay.
Hàng năm mỗi máy ấp đa kỳ nên ngừng hoạt động một lần để vệ sinh tổng thể và bảo dưỡng.
3.2. Máy ấp và máy nở đơn kỳ
Trước khi đưa trứng vào máy ấp, máy nở phải được vệ sinh sạch sẽ và xông sát trùng với liều lượng 17,5 gam thuốc tím + 35cc formol/m3 thể tích trong vòng 1 giờ.
Sau mỗi lần ra gà, lông tơ của gà con bay khắp nơi có thể lọt vào các khe nhỏ của máy nên khi làm vệ sinh phải rất cẩn thận:
-          Đưa xe chở khay và các khay ra khu vực vệ sinh cọ rửa và sát trùng. Dùng chổi quét sạch lông tơ trong máy, dùng bàn chải, nước xà phòng cọ rửa sạch các vết bẩn, vết máu hoặc trứng vỡ có trong máy. Sau đó dùng vòi nước có áp suất cao phun cho sạch hết xà phòng bên trong và bên ngoài máy rồi lau khô.
-          Cho máy chạy thử, khi máy đạt đủ nhiệt độ, ẩm độ cần thiết thì tiến hành xông sát trùng theo liều lượng 17,5 gam thuốc tím + 35cc formol/m3 thể tích trong vòng 1 giờ, khi xông phải đóng kín cửa của máy và cửa thông gió.
-           Máy ấp, máy nở lâu không sử dụng, khi dùng lại cũng phải vệ sinh sát trùng như trên.
PHẦN II
KỸ THUẬT ẤP TRỨNG GÀ
I. CHỌN TRỨNG ẤP
-   Trứng giống chọn vào ấp phải được nhập từ cơ sở chăn nuôi an toàn vệ dịch
bệnh.
-             Thông thường trứng giống đã được lựa chọn sơ bộ khi đưa từ chuồng nuôi vào kho bảo quản. Tuy nhiên trước khi đưa trứng vào ấp, trứng giống phải được chọn lại lần cuối để loại bỏ những quả không đủ tiêu chuẩn ra ngoài. Khi chọn trứng cần dựa vào các tiêu chuẩn sau:
1. Khối lượng trứng
Tiêu chuẩn khối lượng trứng giống tùy theo giống, dòng, mục đích sử dụng cũng như tuổi của đàn gà.
2. Hình dạng trứng
Trứng chọn đưa vào ấp phải có hình ô van thật rõ nét và đều, cần loại bỏ các trứng dị hình.
2.                        Vỏ trứng
Chỉ chọn những quả trứng có vỏ sạch, dày cứng, nhẵn và đều màu. Loại trứng vỏ mỏng, rạn nứt hoặc sần sùi, dính phân, dính máu hoặc dính trứng vỡ trên một diện tích rộng.
I. XÔNG KHỬ TRỪNG VÀ BẢO QUẢN TRỨNG
1. Xông khử trùng trứng
Trước khi đưa vào kho bảo quản trứng giống được xông sát trùng. Liều lượng hóa chất xông là: 9 gam thuốc tím + 18cc formol/lm3 thể tích tủ xông, khi xông cần lưu ý cho thuốc tím vào trước và đổ Formol sau rồi đóng cửa tủ. Sau 30 phút thì mở cửa tủ cho hơi xông thoát hết ra. Chú ý khi cho thuốc tím vào formol phải làm nhanh tay nhưng nhẹ nhàng, tránh để bắn lên tay lên mặt có thể gây cháy da.
Trứng giống phải được xông ngay sau khi nhập từ chuồng nuôi về và trước khi bảo quản.
2. Bảo quản trứng
Trứng giống sau khi đã được xông sát trùng nếu chưa ấp ngay thì phải có phồng bảo quản. Trứng bảo quản tốt nhất là ở trong phòng lạnh, phòng lạnh bảo quản trứng cần đảm bảo điều kiện sau:
-          Có máy điều hòa hoặc máy lạnh hoạt động tốt, duy trì nhiệt độ trong khoảng 15 - 18°C, ẩm độ tương đối 75 - 80%.
-            Được vệ sinh sạch sẽ hàng ngày.
Cho dù các điều kiện bảo quản có tốt đến đâu cũng không nên bảo quản trứng ấp quá một tuần (trừ điều kiện bắt buộc). Vì từ 10 ngày trở đi, tỷ lệ ấp nở sẽ giảm đi rất nhiều sau mỗi ngày bảo quản.

III. CHẾ ĐỘ ẤP, NỞ
1. Máy ấp trứng công nghiệp
Hiện nay có nhiều loại máy ấp công nghiệp đang được sử dụng ở nước ta, với công suất từ hàng trăm quả tới 7 - 8 vạn quả.
Phổ biến nhất là loại máy có công suất 19.000 và 38.000 quả, được nhập từ Canada, Hungari, Hà Lan, Mỹ, Trung Quốc...
Tuy có khác nhau về hình thức, về công suất cũng như về thiết kế kỹ thuật nhưng tất cả các loại máy ấp đều phải tuân theo một nguyên lý chung, vì vậy đều phải có các phần sau: vỏ máy, bảng điều khiển, giá đỡ khay (xe khay) và khay đựng trứng, hộ thống đảo, hệ thống nhiệt, hệ thống ẩm, hệ thống thông thoáng và hệ thống bảo vệ.
1.1. Vỏ máy
       Vỏ máy bao gồm các thành xung quanh, trần máy và sàn máy. Ở các máy lớn người ta tận dụng luôn nền nhà làm sàn máy. Hiện nay các máy thế hệ mới vỏ máy được làm bằng hợp kim nhôm hoặc nhựa ở bề mặt các tấm lấp ghép, ở giữa hai mặt là lớp xốp cách nhiệt có kèm theo khung kim loại chịu lực với các lỗ
khoan sẵn tiện lợi cho việc lắp ráp các tấm với nhau, do đó vó máy cứng, nhẹ, chịu ẩm và dễ vệ sinh.
1.2.  Bảng điêu khiển tín hiệu
Là bảng tập trung các nút điều khiển các hoạt động của máy, bảng được lắp ở mặt trước máy. Bảng điều khiển có công tắc tổng để bật, tắt máy, có các nút điều khiển nhiệt độ, ẩm độ, đảo trứng... có các đèn hiệu kèm theo để báo chức năng nào đang làm việc.
Một số máy đời mới hiện đại có màn hình hiển thị nhiệt độ, ẩm độ... mà máy đang thực hiện, có nút cảm ứng để điều chỉnh.
1.3. Giá đỡ khay và khay đựng trứng
Có thể chia ra 2 loại:
-                Giá đỡ cố định (khớp cứng): Là giàn giá đỡ khay có hình dáng cố định, không bị thay đổi khi máy đảo trứng. Vì vậy toàn bộ giàn giá đỡ khay được lắp trên một trục chạy qua tâm của giàn. Khi đảo trứng trục sẽ quay làm cả giàn nghiêng theo. Kiểu cấu tạo này thường chỉ ở máy ấp có công suất vừa và nhỏ.
         - Giá đỡ có khớp mềm: kiểu giá đỡ này thường gặp ở các loại máy ấp có công suất lớn. Do sự thuận tiện của nó nên nhiều máy công suất nhỏ cũng sử dụng loại này.
Giá đỡ khớp mềm là giàn giá đỡ tự nó chuyển động và thay đổi hình dáng khi máy đảo trứng. Trong máy thường được chia ra nhiều cột giá đỡ. Mỗi cột giá đỡ có từ 12 đến 15 tầng, mỗi tầng là giá đỡ của 1 đến 2 khay đựng trứng. Bốn góc của giá đỡ được gắn đinh tán vào nẹp kim loại của quang treo. Khi máy đảo trứng, một bên quang treo bị kéo lên và nên kia bị đẩy xuống làm cho tất cả các tầng giá đỡ đều nghiêng đồng loạt một góc như nhau.
1.3 2. Khay đựng trứng
Khay đựng trứng ở máy ấp gọi là khay ấp còn ở máy nở gọi là  khay nở.
- Khay ấp đựng các trứng đưa vào ấp và phải giữ cho tất cả trứng ở trong khay nằm theo một tư thế nhất định: đầu nhọn xuống dưới, đầu có buồng khí lên trên.
Các khay đựng trứng cũng rất đa dạng, khay ấp có thể làm bằng kim loại hoặc bằng nhựa. Ở các máy thế hệ mới khay ấp được làm bằng nhựa vừa thao tác sử dụng nhẹ nhàng, bền lại dễ vệ sinh sát trùng. Một khay ấp có thể chứa 150 quả.
Hiện nay khay có lỗ được coi là tiên tiến nhất. Khay được làm bằng nhựa, có lỗ cho từng quả trứng, giữa các quả trứng có các mép nhựa ngăn cách khồng cho chúng đập vào nhau hoặc lăn ra ngoài. Các khay có lỗ có ưu điểm nhẹ, thao tác nhanh, thuận tiện và có thể lấy bất cứ quả trứng nào trong khay ra mà không ảnh hưởng gì tới các trứng xung quanh.
        - Khay nở là loại khay nhựa dùng để đựng trứng khi chuyển từ máy ấp sang máy nở cho đến khi gà con nở ra. Mỗi khay nở có thể chứa được từ 100 đến 150 gà con khi nở ra.
1.4. Hệ thống đảo
    Ở các máy công nghiệp việc đảo trứng được thực hiện bằng cách dùng mô tơ để đẩy cần đảo. Hệ thống đảo được hoạt động nhờ việc cài đặt một đồng hồ thời gian sẽ đúng chu kỳ từ 1 đến 2 giờ một lần bật mô tơ đảo. Khi mô tơ đảo hoạt động truyền lực vào cần đảo kéo các quang treo về một phía làm các giá đỡ khay nghiêng đi. Khi góc đảo đã đạt yêu cầu 45° thì công tắc giới hạn sẽ tự động làm ngừng mô tơ đảo để tới chu kỳ sau đảo ngược lại.
1.5. Hệ thống thông thoáng
Hệ thống thông thoáng được chia thành 3 phần: lỗ hút khí, lỗ thoát khí và quạt gió.
Lỗ hút khí thường nằm phía sau quạt gió. Quạt tạo nên lực hút trong ống và đẩy không khí mới đi khắp trong máy.
Lỗ thoát khí có thể là một hoặc nhiều lỗ và thường nằm ở nóc máy, vì khí nóng bốc lên trên sẽ được đẩy ra ngoài dễ dàng không bị ứ đọng nhiệt độ cao cục bộ.
Tùy theo thiết kế của từng loại máy mà người ta lắp cửa điều chỉnh lượng khí ra vào máy ở lỗ hút hoặc thoát khí hoặc cả hai. Các máy ấp cũ thì cửa điều chỉnh này đóng mở bằng tay. Ở một số máy ấp hiện đại cửa này được gắn một mô tơ nhỏ để tự động điều chỉnh độ mở đáp ứng yêu cầu của chế độ ấp.
Quạt gió trong máy ấp có nhiệm vụ đảo đều không khí trong máy, đảm bảo cho nhiệt độ và ẩm độ các vùng trong máy ấp đều nhau.
1.6. Hệ thống nhiệt
Để cấp nhiệt và ổn định nhiệt cho máy ấp người ta dùng các thiết bị sau: dây may so cấp nhiệt, cảm nhiệt hoặc nhiệt kế công tắc hoặc màng ete.
Dây may so là dây điện trở mà khi có dòng điện chạy qua nó sẽ nóng lên và tỏa nhiếu nhiệt. Dây may so thường dùng là loại dây đã được bọc một lớp cách điện. Loại dây này bén, không bị oxy hóa và an toàn cho người sử dụng. Một số máy ấp hiện đại công suất lớn thường dùng hai dây may so; một dây chính và một dây phụ. Khi trứng mới đưa vào ấp nhiệt độ của máy thấp hơn nhiều so với yêu cầu, khi đó cả hai dây đều hoạt động để cấp nhiệt tới mức tối đa cho máy. Khi còn cách nhiệt độ yêu cầu khoảng 2oC thì dây phụ sẽ tắt một mình dây chính cấp nhiệt.
Cảm nhiệt hay nhiệt kế công tắc là thiết bị điều khiển dùng để đóng, ngắt nguồn điện vào dây may so duy trì nhiệt độ yêu cầu trong máy.

88




 
1.7. Hệ thống tạo ẩm
Có rất nhiều cách tạo ẩm bên trong máy ấp. Tuy nhiên về mặt nguyên lý chúng chỉ có hai dạng: dùng diện tích bề mặt cho nước bay hơi và phun nước đưới dạng sương mù.
Nếu là loại máy dùng diện tích bề mặt cho nước bay hơi thì nước vào máy không cần có áp suất cao. Muốn điều chỉnh độ ẩm trong máy chỉ cần thay đổi diện tích có nước là đủ.
Đối với các loại máy tạo ẩm bằng cách đưa nước vào không khí dưới dạng sương mù thì nước vào máy có thể là nước có áp suất cao, khi vào máy nước sẽ đi tới vòi phun, do cấu tạo của vòi phun, nước vào sẽ xoáy và phun qua một lỗ nhỏ tạo thành một luồng bụi nước và được quạt gió thổi đi khắp nơi trong máy.
1.8. Hệ thống bảo vệ
Tín hiệu thường thấy của hệ thống này khi hoạt động là chuông báo động kêu vang và đèn đỏ bật sáng.
Đối với máy ấp quan trọng nhất là chế độ nhiệt, vì vậy kể cả máy đã cũ nhưng bao giờ hệ thống nhiệt cũng được gắn chuông và đèn báo động. Ngoài nhiệt độ thì ở các máy ấp công nghiệp còn lắp hệ thống bảo vệ cho hệ thống thông thoáng, hệ thống đảo, tạo ẩm...
Ngoài ra để bảo vệ các mô tơ và phần điện các máy ấp hiện đại đều có các
cầu chì tự động (Atomat) cho từng thiết bị. Khi có sự cố về điện cầu chì này tự
động ngắt điện tránh cho các thiết bị điện bị nóng và cháy.

2. Máy ấp bán công nghiệp
2.1. Đặc điểm của máy ấp bán công nghiệp
Là loại máy do một số tổ chức, cá nhân trong nước tự thiết kế dựa theo nguyên lý của máy ấp công nghiệp, tuy nhiên vật liệu, thiết bị còn đơn giản, thô sơ. Máy ấp bán công nghiệp thường chỉ có bộ phận điều khiển nhiệt độ ấp là tự động, còn việc điều chỉnh ẩm độ và đảo trứng là thủ công (dùng tay).
Tùy vào nhu cầu mà người ta có thể thiết kế máy ấp bán công nghiệp có công suất từ 5.000 - 10.000 trứng hoặc lớn hơn. Máy ấp này có một số ưu điểm là:
- Phù hợp với qui mô chăn nuôi gia trại, trang trại vừa và nhỏ.
- Được làm bằng nguyên vật liệu sẵn có trong nước.
- Giá thành rẻ (chỉ bằng 15 - 20% giá mua mấy ấp công nghiệp tự động) nên khấu hao nhanh.
Tuy nhiên loại máy ấp này còn một số nhược điểm là:
- Tốn công theo dõi nhiệt độ, ẩm độ và định kỳ bật công tắc đảo trứng.
- Điều hòa lưu thông không khí kém hơn máy công nghiệp.
- Chất lượng gà con và tỷ lệ ấp nở chưa bằng máy công nghiệp tự động.
2.2.   Cấu trúc của máy ấp bán công nghiệp
        - Vỏ và khung máy: khung máy được làm bằng gỗ tốt không mọt hoặc bằng sắt hộp. Thành máy dày khoảng 5 - 7cm, ở giữa là lớp xốp dày 5cm; hai bên được làm bằng tôn lá cứng dày 5mm, đảm bảo giữ nhiệt tốt cho máy.
-             Máy ấp có hình dạng chữ nhật. Đáy máy đặt trực tiếp trên mặt nền nhà ấp. Mặt trước máy là 2 cánh cửa được thiết kế như thành máy, ở giữa các cánh cửa làm ô kính để quan sát nhiệt kế, ẩm kế hoặc trong máy ấp khi cần thiết.
-               Bộ phận cấp nhiệt gồm dây may so được đốt nóng nhờ nguồn điện. Nguồn điện đốt nóng dây may so được điều chỉnh nhờ hệ thống rơ le tự ngắt. Rơ le là nhiệt kế công tắc điều khiển với độ chính xác tới ± 0,0l°c. Khi nhiệt độ trong máy tăng cao hơn yêu cầu thì rơ le tự động ngắt nguồn điện cấp cho dây may so, khi nhiệt độ hạ thấp hơn yêu cầu thì rơ le lại tự động đóng nguồn điện cấp cho dây may so. Quạt gió có 3 - 4 cánh, tốc độ khoảng l.000 vòng/phút đặt trước hệ thống cấp nhiệt vừa hút không khí bên ngoài vào máy ấp vừa phân phối nhiệt độ, ẩm độ đều khắp máy.
-              Quạt thoát nhiệt được đặt trên nóc máy, phía dưới lỗ thông hơi, quạt này có công suất nhỏ và có tác dụng đẩy khí trong máy ấp ra ngoài, làm thông thoáng cho máy ấp.
Việc cấp ẩm: trong chế độ ấp thì ẩm độ yêu cầu cho phôi phát triển là 55 - 60% trong máy ấp và 65 - 75% trong máy nở. Ở máy ấp bán công nghiệp việc cấp ẩm người ta thường dùng đĩa hoặc khay có bông, chất xốp thấm nước đặt ở đáy máy ấp. Các loại máy có công suất lớn hơn người ta dùng khay hoặc bồn chứa nước đạt ở đáy máy phía dưới nguồn nhiệt và quạt gió. Khi nhiệt độ trong máy tăng, hơi nước bốc lên nhờ quạt gió đẩy khắp máy ấp. Dùng ẩm kế để theo dõi độ ẩm trong máy. Nếu độ ẩm dưới mức qui định thì phải kiểm tra nước trong khay ẩm, bổ sung nước nếu cần thiết. Nếu độ ẩm cao hơn qui định phải lấy bớt nước ở khay ẩm hoặc rút khay ẩm ra ngoài khoảng 10-15 phút. Cần chú ý phải đảm bảo nước trong khay có nhiệt độ khoảng 37 - 38°c, nếu cần thiết thì đun nước ấm để đổ vào khay ẩm đặc biệt là mùa đông để tránh làm giảm nhiệt của máy ấp.
-               Hệ thống đảo: bao gồm mô tơ đảo gắn với các giàn khay qua hệ thống bánh răng và xích tải. Tuy nhiên hệ thống này không được thiết kế tự động mà định kỳ 1 - 2 giờ người trực ca phải bật công tắc cho mô tơ đảo làm việc, khi các khay trứng đã nghiêng một góc 45° thì tắt mô tơ đảo.
-              Hệ thống báo động: là còi báo động được gắn với nhiệt kế công tắc, có tác dụng báo động khi nhiệt độ trong máy ấp tăng cao hơn mức yêu cầu. Ngoài ra khi mất điện thì còi báo động cũng kêu.
-             Khay ấp trứng làm khung bằng các loại gỗ nhẹ, chắc, ở giữa nơi xếp trứng được căng bằng hai tầng dây dù chắc chắn. Tầng dưới căng ngang dọc thành ô vuông đảm bảo cho đầu nhọn trứng không bị lọt, tầng trên chỉ căng dọc để giữ trứng không bị xô khi đảo nghiêng 45°. Khay nở làm bằng tôn hoặc nhựa.
-             Giàn đặt khay trứng thường làm bằng sắt, chia thành nhiều tầng, mỗi tầng để lọt 2 khay trứng. Tùy vào công suất của từng máy mà người ta thiết kế số lượng giàn đặt khay.
Đối với máy ấp bán công nghiệp nếu là máy có công suất nhỏ người ta có thể để trứng nở ngay trong máy ấp mà không cần máy nở riêng. Khi trứng ấp được 19 ngày thì chuyển trứng từ khay ấp sang khay nở và chuyển xuống ấp tiếp ở phía dưới cùng của máy, phía trên vẫn tiếp tục đưa trứng mới vào ấp, khoảng 2-3 giờ đầu phải tăng nhiệt độ trong máy tới 38°C để làm ấm trứng mới, sau đó mới duy trì nhiệt độ 37 - 37,5°C. Trường hợp này giàn chứa khay phía dưới phải thiết kế đặt vừa khay nở.
Hiện nay các máy ấp bán công nghiệp có công suất trên 8.000 trứng đều thiết kế máy nở riêng giúp cho việc ấp nở được vệ sinh hơn, nâng cao tỷ lệ ấp nở và chất lượng gà con. Cấu trúc của máy nở cũng giống như máy ấp chỉ khác giàn chứa khay nở.
3. Điều khiển máy ấp, máy nở
3.1. Điều khiển nhiệt độ
3.1.1. Điều khiển bộ phận cấp nhiệt
Cấp nhiệt cho máy ấp là dây may so. Khi có điện đi qua thì dây may so sẽ nóng lên và tỏa nhiệt. Để đóng ngắt điện đi qua dây may so có thể dùng: màng ete đóng mở công tắc và nhiệt kế công tắc thủy ngân. Các máy ấp hiện đại hiện nay người ta dùng biến trở cảm nhiệt.
Cơ chế của quá trình điểu khiển bộ phận cấp nhiệt là: Khi nhiệt độ trong máy dưới mức yêu cầu thì nhờ cơ chế hoạt động của màng ete, nhiệt kế công tắc hay biến trở cảm nhiệt, sẽ đóng cho dòng điện vào dây may so để cấp nhiệt cho máy. Khi máy đã đạt nhiệt độ yêu cầu thì ngắt không cho điện vào dây may so và dừng việc cấp nhiệt cho máy. Sự chênh lệch nhiệt độ từ khi tắt dây may so cho tới khi bật lên phụ thuộc vào độ nhạy của nhiệt kế công tắc, cảm nhiệt hay màng ete. Từ đó nhiệt độ của máy sẽ được ổn định.
3.1.2. Quạt hút khí nóng và ống dẫn nước lạnh
Khi nhiệt độ trong máy vì bất cứ lý do nào vượt quá yêu cầu, quạt hút khí nóng sẽ làm việc để hút khí nóng trong máy ra nhanh hơn giữ cho nhiệt độ của máy không tăng quá mức cho phép. Khi nhiệt độ trong máy hạ xuống thì quạt sẽ ngừng hoạt động
Nhiệt độ giới hạn cho quạt hút khí nóng bắt đầu làm việc là 0,3°C cao hơn yêu cầu.
Điều khiển quạt hút cũng là một bộ các thiết bị bao gồm: nhiệt kế công tắc, rơ le trung gian và khởi động từ.
Để hạ nhiệt độ của máy khi nhiệt trong máy tăng lên quá mức yêu cầu người ta còn có thể mở đường ống dẫn khí lạnh hoặc cho nước lạnh chảy vào giàn ống đồng ở trong máy.
Ngoài ra để điều khiển nhiệt độ ổn định trong máy người ta lắp hệ thống báo động nhiệt độ: khi nhiệt độ > 38°C hoặc < 36°C thì chuông báo động kêu và đèn bật sáng.

3.1.5. Nhiệt độ hoạt động của máy
* Máy ấp đơn kỳ: là máy ấp mà tất cả số trứng trong máy đều vào cùng một lúc nên có cùng một tuổi ấp và ngày nở giống nhau. Vì vậy chế độ ấp cho máy đơn kỳ phải thay đổi cho phù hợp với sự phát triển của phôi. Các máy ấp đơn kỳ cho phép ấp và nở cùng một máy.
Nhiệt độ thường dùng là:
-              Từ ngày 1 đến ngày 13 (mùa hè) hoặc 15 (mùa lạnh):              37,8° C
-              Từ ngày 14 hoặc 16 tới ngày 18:                                                                        37,4 - 37,5°c
-              Từ ngày 19 đến ngày 21 :                                                                                    36,8 - 37,l°c.
* Máy ấp đa kỳ: thường là máy có công suất lớn trong đó trứng vào ấp được chia thành nhiều đợt (thường là 6 đợt). Vì vậy trứng trong máy có nhiều tuổi ấp khác nhau, ngày nở khác nhau. Vì không thể làm nhiều chế độ ấp trong cùng một máy nên ở máy ấp đa kỳ phải sử dụng một chế độ ấp mà tất cả các lô trứng trong máy đều có thể chấp nhận được tuy không phải là tốt nhất. Chế độ ấp này luôn cố định không thay đổi ở máy ấp. Ở máy ấp đa kỳ nhiệt độ thường dùng là 37,5°C - 37,6°C
Do trứng trong máy không có cùng tuổi ấp nên khi ấp máy ấp đa kỳ đòi hỏi phải có máy nở riêng.
Khi đã ấp được tròn 18 ngày thì trứng được chuyển qua máy nở. Ở máy nở nhiệt độ giống như ở máy ấp đơn kỳ giai đoạn 19 đến 21 ngày, tức là: 36,8 đến 37,1°C.

3.1.6. Những nguyên nhân thường gây nhiệt độ cao trong máy và cách xử lý
         - Bộ phận điều khiển việc cấp nhiệt bị trục trặc
        - Các lỗ hút và thoát khí của máy mở quá nhỏ
         - Quạt hút khí nóng hoặc van điện từ mở nước lạnh vào giàn ống bị hỏng không làm việc
-           Nhiệt độ phòng ấp quá cao
-           Máy ấp dùng hết công suất trong mùa hè
-           Các lô ấp ở máy đa kỳ bố trí quá sát nhau
-           Quạt bị cháy mô tơ hoặc đứt dây cuaroa nên dừng lại hoặc chạy chậm do yếu điện, sát cốt.
        * Cách xử lý:
-           Mở cửa máy cho hạ nhiệt độ.
-           Kiểm tra lại hệ thống điều khiển nhiệt độ tự động và các mối tiếp xúc điện.
-           Mở rộng các lỗ thông thoáng của máy.
-           Mở quạt và các cửa của phòng ấp cho tăng thông thoáng.
-           Không ấp hết công suất của máy trong mùa hè.
-           Không bố trí các đợt ấp vào máy đa kỳ quá sát nhau.
-            Nếu máy hỏng không sửa nhanh được phải chuyển trứng sang máy khác.
     3.1.7. Những nguyên nhân thường gây nhiệt độ thấp trong máy và cách xử lý
-           Các cửa thông gió của máy mở quá lớn.
-             Dây may so cấp nhiệt của máy bị đứt hoặc mất điện do mối tiếp xúc bị bẩn.
-           Khởi động từ bị cháy không hút.
-           Cửa máy đóng không kín.
-           Nhiệt độ môi trường quá thấp.
-           Mất pha hoặc điện thế yếu.
-           Ẩm độ trong máy qua cao.
        * Cách xử lý:
-           Khép bớt các cửa thông gió của máy
-           Đóng chặt cửa máy hoặc chèn các chỗ hở.
-           Kiểm tra lại các dây may so và tiếp điểm phần điện.
-           Tạm thời ngắt ẩm cho nhiệt tăng.
-           Nên khép bớt các cửa đưa gió lạnh vào phòng.
3.2. Điều khiển ẩm độ
Muốn tạo độ ẩm trong máy dù với hình thức phun sương hay cho nước bay hơi bề mặt thoáng thì vẫn phải có nước đi vào máy. Điều khiển van điện từ đóng mở nước vào máy có thể dùng nhiệt kế công tắc bấc ẩm hoặc một ẩm kế công tắc và một rơ le trung gian. Hệ thống này sẽ tự động điều khiển việc đóng ngắt mạch điện điều khiển van điện từ.
Để theo dõi độ ẩm trong máy có thể dùng một ẩm kế hoặc một nhiệt kế chính xác mà bầu thủy ngân có bọc bấc ẩm.
3.2.1. Độ ẩm thường dùng trong máy
* Máy ấp đơn kỳ:
- Từ 1 đến 6 ngày ấp                                  : Độ ẩm tương đối: 70 - 75%
- Từ 7 đến 10 ngày ấp                                : Độ ẩm tương đối: 60%
- Từ 11 đến 18 ngày ấp                             : Độ ẩm tương đối: 55%
- Từ 19 đến 21 ngày ấp                             : Độ ẩm tương đối: 68 - 75%
* Máy đa kỳ:
-Từ 1 đến 18 ngày ấp                                 : Độ ẩm tương đối: 55 - 57%
- Từ 19 đến 21 ngày ấp : Độ ẩm tương đối: 68 -75%
3.2.2. Những nguyên nhân thường gây độ ẩm cao trong máy và cách xử lý
- Nhiệt kế bấc ẩm bị đứt cột thủy ngân hoặc lỏng đầu cắm.
- Ẩm độ tương đối của môi trường quá lớn.
- Rơ le trung gian (ẩm) cháy hoặc hỏng không hút được.
- Gà nở đồng loạt trong máy nở.
- Nền máy có nhiều nước hoặc khay mới rửa chưa khô.
- Lỗ hút và thoát khí mở quá nhỏ.

* Cách xử lý:
- Tắt công tắc ẩm.
- Kiểm tra lại cột thủy ngân và đầu cắm của nhiệt kế công tắc bấc ẩm.
- Kiểm tra rơ le trung gian ẩm xem có hút được không.
- Kiểm tra nền máy nếu có nhiều nước phải lau khô.
- Nếu có thể nên mở rộng thêm lỗ thoát khí của máy
    3.2.3. Những nguyên nhân thường gây độ ẩm thấp trong máy và cách xử lý
- Độ ẩm tương đối của môi trường quá thấp
- Cửa máy đóng không kín hoặc lỗ thoát khí mở quá lớn.
- Van điện từ bị cháy.
- Bấc của nhiệt kế công tắc bấc ẩm bị khô do bẩn, cứng hoặc do nước ở bình bị cạn.
- Bình lọc nước bị tắc, vòi phun bị tắc.
- Nước vào vòi phun có áp suất thấp.
* Cách xử lý:
- Kiểm tra lại van điện từ xem có cháy không.
- Kiểm tra lại bấc, bình lọc nước, vòi phun.
- Xem lại áp suất nước vào máy.
- Khép bớt các cửa thông gió của máy.
- Nếu chưa phát hiện ra nguyên nhân cần cho bao tải ướt hoặc khay nước ấm dưới sàn máy để tăng độ ẩm tạm thời.
3.3. Điều khiển đảo trứng
Máy ấp công nghiệp có bộ phận đảo trứng tự động thường cứ 1 hoặc 2 giờ lại cho mô tơ đảo hoạt động một lần. Chu kỳ này thực hiện được là nhờ có một đồng hồ điện làm xoay một bánh răng làm đóng mở công tắc cho mô tơ đảo chạy. Số răng có thể cố định hoặc tháo lắp được để thay đổi độ đài của chu kỳ đảo.
Khi công tắc đóng sẽ có điện đi vào cuộn dây của khởi động từ đảo làm khởi động từ hút, cấp điện cho mô tơ đảo hoạt động. Khi đảo đến giới hạn sẽ có công tắc giới hạn làm nhiệm vụ tắt mô tơ.
* Những nguyên nhân thường gây trục trặc bộ phận đảo và cách xử lý
- Khay chưa vào hết giá đỡ nên bị kẹt.
- Mô tơ đảo bị cháy.
- Khởi động từ bị hỏng hoặc cháy.
- Đồng hồ đảo bị hỏng
- Công tắc giới hạn không nhạy...
* Cách xử lý:
- Khi thấy có tiếng động lạ lúc đang đảo phải dừng ngay để kiểm tra khi quá muộn
- Nếu có khay bị kẹt phải cho đảo ngược chiều lại để rút khay ra khỏi chỗ bị kẹt
- Nếu máy không đảo cần kiểm tra mô tơ  đảo, đồng hồ đảo hoặc khởi động từ
3.4. Điều khiển hệ thống thông thoáng.
Độ thông thoáng ở máy ấp nhằm đảm bảo cho bất kỳ vùng nào trong máy cũng có một nhiệt độ và ẩm độ như nhau, ngoài ra còn đảm bảo độ trong sạch của không khí trong máy.
Độ thông thoáng trong máy phụ thuộc chủ yếu vào quạt gió. Tùy theo công suất máy ấp, tốc độ quay, đường kính của quạt cũng như số lượng quạt trong máy sẽ khác nhau. Tuy vậy độ thông thoáng đã được các hãng sản xuất tính sẵn nên không cần phải điều chỉnh. Nếu có nhu cầu tăng giảm nhiệt độ hoặc ẩm độ cấp tốc thì ta có thể điều chỉnh độ mở cửa lỗ thông gió cho thích hợp.
3.5. Cách xử lý khi đang ấp bị mất điện
* Đối với máy ấp đơn kỳ:
- Trước hết mở to các cửa máy trong 30 giây cho thoát hơi nóng đang đọng ở trong ra.
- Nếu trứng mới đưa vào ấp (6 ngày trở lại) thì sau đó đóng chặt cửa máy lại để khỏi bị mất nhiệt.
- Nếu trứng vào ấp từ 10 ngày trở lên thì nên để hé cửa máy sau khi đã mở to để khí nóng và CO2 thoát ra dễ dàng. Còn nếu dưói 10 ngày thì một bên đóng kín một bên để hé nhỏ.
* Đối với máy đa kỳ:
Mở to cửa máy cho thoát hơi nóng ở trong máy sau đó khép bớt để mở một góc xấp xỉ 30°
* Đối với máy nở:
Cần mở to cửa 30 giây rồi khép hờ lại duy trì một khoảng hở đủ để gà con thở và thoát nhiệt.
* Lưu ý:
Khi đi mở cửa các máy cần mở cửa máy nở trước và phải tắt công tắc tổng của các máy đó.
- Chạy máy phát điện đự phòng (hoặc đợi tới khi có điện) và điều chỉnh mọi chỉ số về tần số, hiệu điện thế phù hợp.
- Bật công tắc cho từng máy một khởi động rồi đóng chặt cửa máy.
4. Quá trình ấp
4.1. Đưa trứng vào máy ( vào trứng)
4.1.1. Chuẩn bị máy ấp
Trước khi cho trứng vào ấp, máy ấp cần được kiểm tra cẩn thận từng bộ phận để tránh bị hỏng hóc khi đang chạy. Máy ấp đã được vệ sinh, xồng sát trùng cẩn thận.
4.1.2. Chuẩn bị trứng ấp
- Trứng đưa vào ấp phải được lấy ra khỏi phòng lạnh bảo quản trước 8 tiếng để trứng nóng dần lên bằng nhiệt độ môi trường và khô dần mới đưa vào máy. Nếu đưa trứng vào máy ngay nhiệt độ tăng đột ngột sẽ dẫn đến làm chết phôi nhiều.
- Khi xếp trứng vào khay ấp cần loại bỏ những trứng dập vỡ, chuyển khay ấp đã có trứng lên xe chở khay ấp và ghi lại tên loại trứng, giống, dòng, ngày vào trứng trên các thẻ gài ở đầu khay.
4.1.3. Đưa trứng vào máy ấp
Trứng sau khi đã được xếp vào khay ấp và chuyển lên xe chở khay ấp, ta tiến hành đưa trứng vào máy.
- Cho bộ phận tạo ẩm của máy ngừng hoạt động
- Bật công tắc đảo để tất cả các giá đỡ khay trở về vị trí nằm ngang
- Nếu máy ấp có giá đỡ cố định thì lần lượt cho các khay trứng chuyển vào trong máy. Đặt các khay trứng vào giá đỡ theo thứ tự từng cột từ trên xuống.
- Nếu máy ấp có xe khay di động thì ta chỉ việc đẩy các xe khay đã có trứng vào máy, sao cho xe vào đúng khớp của giá đỡ để đảm bảo khi đảo trứng được an toàn.
- Sau khi đã chuyển tất cả các khay trứng vào máy xong phải kiểm tra lại xem các khay đã vào hết bên trong giá đỡ chưa. Bất kỳ khay nào không vào hết khi máy đảo sẽ bị kẹt làm hỏng khay và vỡ trứng.
- Bật công tắc đảo thử hai chiều để các khay trứng về vị trí nằm nghiêng. Trong khi hệ thống đảo làm việc nếu thấy có tiếng động nào không bình thường phải dừng đảo để kiểm tra.
- Đóng cửa máy và lỗ thoát khí để nhiệt độ của máy tăng nhanh, khi nhiệt độ trong máy đạt mức yêu cầu thì cho bộ phận tạo ẩm hoạt động trở lại.
- Khi máy đạt đủ nhiệt độ và ẩm độ thì tiến hành xông sát trùng theo tỷ lệ 9 gam thuốc tím và 18 cc focmol cho lm3 thể tích máy trong 30 phút, hết thời gian xông phải mở cửa, mở các lỗ thông khí của máy cho thoát hết hơi xông sau đó đóng cửa máy lại.
4.2. Chuyển trứng từ máy ấp sang máy nở
Sau khi trứng đã ấp được 18 ngày thì chuyển sang máy nở. Công việc chuyển trứng phải được tiến hành nhanh gọn trong thời gian ngắn nhất có thể, khi chuyển trứng cần thao tác nhẹ nhàng cẩn thận vì vỏ trứng giai đoạn này rất giòn rễ bị vỡ.
4.2.1. Chuẩn bị máy nở
Trước khi chuyển trứng sang, máy nở đã được cọ rửa vệ sinh cẩn thận và xông sát trùng kỹ lưỡng, cho máy chạy để sấy máy khoảng 6 tiếng. Trong thời gian máy chạy thử cần chỉnh nhiệt độ, ẩm độ của máy cho thật chính xác. Khi bắt đầu chuyển trứng thì không cho bộ phận tạo ẩm làm việc.
4.2.2. Chuẩn bị dụng cụ và các điều kiện cần thiết
Để tiến hành chuyển trứng từ máy ấp sang máy nở đồng thời soi trứng để loại những quả trứng không phôi (trứng sáng), trứng thối trước khi đưa sang máy nở thì cần chuẩn bị một số dụng cụ và điều kiện sau:
* Dụng cụ: bàn chuyển trứng, đèn soi trứng, xô đựng nước có thuốc sát trùng, khay đựng trứng loại, biểu mẫu theo dõi...
* Các điều kiện cần thiết:
- Tất cả các dụng cụ như đèn soi, bàn chuyển trứng, dụng cụ vệ sinh, thùng rác biểu mẫu... được đặt sẵn sàng trước cửa máy nở.
- Đóng các cửa lớn, cửa sổ phòng máy ấp cũng như phòng máy nở tránh gió làm mất nhiệt của trứng.
- Nơi soi trứng phải đóng cửa, tắt đèn để tăng độ chính xác khi soi.
- Để bộ phận cấp nhiệt của máy nở vẫn hoạt động và mở một bên cánh cửa.
4.2.3. Lấy trứng ra khỏi máy ấp
- Tạm thời tắt bộ phận tạo ẩm của máy. Bật công tắc đảo để các khay về vị trí nằm ngang.
- Lần lượt rút các khay trứng ra, có thể kéo cả xe khay trứng từ trong máy ấp ra để chuẩn bị chuyển sang máy nở.
- Lấy xong trứng ra, bật công tắc cho bộ phận đảo hoạt động trả các khay về vị trí nằm nghiêng. Bật công tắc cho bộ phận tạo ẩm hoạt động trở lại
4.2.4. Soi, loại trứng hỏng và chuyển trứng sang máy nở
Trước khi chuyển trứng sang máy nở người ta soi để loại các trứng hỏng (trứng không phôi, trứng chết phôi, trứng thối...)
Soi trứng có thể dùng hai cách: Dùng đèn soi chụp từ trên xuống từng quả một hoặc dùng đèn soi đại trà soi cả khay. Soi đại trà tuy mức độ chính xác không bằng đèn soi cầm tay nhưng cho phép làm nhanh, phù hợp với lô trứng số lượng lớn, nên phần lớn các trạm ấp công suất lớn thường dùng cách này :
- Rút từng khay ấp có trứng theo thứ tự ở xe chở khay ấp và đặt lên đèn soi đại trà.
- Quan sát và nhặt ra khỏi khay các trứng có màu sáng hơn khi soi trên đèn (trứng không phôi, trứng chết phôi sớm), các trứng vỏ bị rạn nứt, các trứng vỏ sùi bọt màu nâu hoặc có màu đen (trứng thối)
- Đưa khay trứng đã được soi lên bàn chuyển trứng. Bàn này nên có chiều ngang hẹp hơn chiều dài của khay cho dễ thao tác và phải đủ dài để có chỗ đặt khay nở
- Dùng khay nở không có trứng úp ngược chùm lên trên khay ấp (khay nở dài và rộng hơn khay ấp). Hai người đứng đối diện ở hai bên cạnh bàn đỡ hai đầu khay nhấc lên. Khi nhấc giữ chặt ép khay nở sát vào khay ấp và đảo ngược lại cho khay ấp nằm lên trên. Thao tác này cần làm nhanh và nhẹ nhàng, tránh làm đột ngột có thể gây vỡ trứng
- Nhẹ nhàng nhấc khay ấp ra khỏi khay nở và để cho trứng lăn tự do bên trong khay nở.
- Rút thẻ đánh dấu khay từ khay ấp chuyển sang khay nở
- Ghi vào biểu mẫu số trứng đã loại và số trứng được chuyển sang máy nở
4.2.5. Đưa trứng vào máy nở
- Khi cầm khay nở có trứng đưa vào máy phải hết súc cẩn thận tránh làm trúng bị rạn vỏ.
- Khi đã chuyển các khay trứng vào đầy một bên máy nở thì đóng cửa bên đó và mở cửa bên còn lại rồi tiếp tục chuyển trứng vào. Máy nở vẫn chạy liên tục trong quá trình chuyển trúng, chỉ tắt ẩm.
- Chuyển xong lấy lắp đậy lên khay trên cùng để gà con khi nở khỏi nhảy ra.
- Sau khi đã chuyển hết trứng vào máy nở thì đóng cửa máy và các lỗ thoát khí cho nhiệt tăng lên. Theo dõi nhiệt độ của máy nở, khi máy đạt nhiệt độ yêu cầu thì cho bộ phận tạo ẩm hoạt động trở lại.
4.3. Lấy gà con ra khỏi máy nở (ra gà)
Tiến hành ra gà như sau:
- Nếu mùa đông thì có thể tắt máy còn mùa hè nên cho máy chạy và cắt nhiệt để đảm bảo thông thoáng
- Lần lượt rút từng khay nở ra khỏi máy đặt lên trên bàn chọn gà, cũng có thể kéo cả xe chở khay ra ngoài nếu điều kiện cho phép
- Nhặt và chọn lọc phân loại gà loại I, loại II cho vào hộp.
- Nhặt các trứng không nở trong khay nở bỏ vào khay nhựa đặt bên cạnh, vỏ trứng còn lại trong khay nở trút vào thùng rác.
- Ghi chép vào biểu mẫu kết quả ấp nở.
- Sau khi đã lấy hết gà ra khỏi máy thì tắt máy thu dọn làm vệ sinh.
- Chuyển hộp gà con sang khu vực bảo quản trước khi xuất.
* Những yếu tố ảnh hưởng đến độ dài của quá trình ấp
- Độ dài quá trình ấp mùa đông dài hơn mùa hè
- Trứng gà dòng nặng (hướng thịt) nở muộn hơn gà dòng nhẹ (hướng trứng)
- Trong cùng một nhóm thì trứng to nở chậm hơn trứng nhỏ.
- Trứng bảo quản càng lâu thì ấp nở càng muộn.

Nếu trứng có chất lượng tốt thì khi vào ấp phôi sẽ phát triển tốt và đồng đều, gà nở đúng thời gian và có chất lượng tốt. Vì thế gà con tốt nhất là những con nở ra trong nửa đầu của ngày ấp thứ 21.
5. Kiểm tra sự phát triển của phôi trong quá trình ấp
5.1. Soi trứng kiểm tra sự phát triển của phôi sau 6 ngày ấp
* Đặc điểm của phôi phát triển tốt sau 6 ngày ấp
- Bình thường không nhìn thấy phôi, chỉ khi xoay trứng mạnh hoặc túi nước ối co bóp mới có thể quan sát thấy.
- Phôi lớn nằm chìm sâu trong lòng đỏ
- Túi nước ối lớn nên chỗ phôi nằm có màu trắng đục mờ (đôi khi thấy phủ một mạng lưới mạch máu rất nhỏ).
- Bên ngoài túi nước ối hệ thống mạch máu của lòng đỏ phát triển mạnh, các mạch máu to và căng đầy. Vì vậy trứng có màu hồng.
- Trứng có buồng khí nhỏ.
- Khi bị soi nóng phôi di động nhanh, mạnh và chìm sâu vào trong trứng. Do đó phải xoay mạnh mới thấy được phôi.
* Đặc điểm của phôi phát triển yếu sau 6 ngày ấp
- Phôi nhẹ không chìm sâu được vào trong lòng đỏ mà nằm gần vỏ nên nhìn thấy mắt phôi rất rõ.
- Túi nước ối nhỏ.
- Hệ thống mạch máu ở lòng đỏ phát triển yếu.
- Phôi yếu nên thiếu máu, các mạch máu nhỏ, ít máu nên khi soi thấy trứng có màu hồng nhạt.
- Đôi khi buồng khí khá lớn.
- Khi soi lên đèn mặc dù nóng nhưng do phôi yếu và nhẹ nên không thể di động mạnh hoặc chìm sâu vào trong trứng.
* Nguyên nhân gây chết phôi nhiều trong thời kỳ đầu.
- Ấp trứng đã bảo quản quá nhiều ngày.
- Trứng ấp không được bảo quản tốt trước khi ấp (nhiệt độ bảo quản cao, ẩm độ thấp).
- Đàn gà sinh sản bị thiếu vitamin trong một thời gian đài, nhất là vitamin thuộc nhóm B, Vitamin A và
- Chế độ ấp không thích hợp chủ yếu do nhiệt độ quá cao.
5.2. Soi trứng kiểm tra sự phát triển của phôi sau 11 ngày ấp
Đây là lần kiểm tra thứ hai từ khi trứng vào ấp. Thời kỳ này túi lòng đỏ và màng niệu nang lớn nhanh và hoạt động tích cực. Trong thời kỳ này phôi có mối quan hệ đặc biệt với môi trường thông qua màng niệu nang và hệ thống mạch máu của nó. Vì vậy sự phát triển của màng niệu nang là một dấu hiệu đáng kể để đánh giá sự phát triển của phôi trong thời gian này.
Dấu hiệu đặc trưng của phôi phát triển tốt sau 11 ngày ấp là màng niệu nang đã khép kín ở phía đầu nhọn của trứng bao bọc toàn bộ bên trong trừ buồng khí và các mạch máu của nó phải nhiều, to và căng.
Khi soi trứng kiểm tra sự phát triển của phôi sau 11 ngày ấp phải soi đầu nhọn của quả trứng. Cần chú ý xem màng niệu đã khép kín hay chưa, chủ yếu phải dựa vào mạng mạch máu để xác định vì màng của màng niệu nang trong những trứng vỏ nâu rất khó nhìn. Tuy nhiên nếu màng niệu nang còn hở ta sẽ thấy chỗ hở sáng hơn một chút và có giới hạn tương đối rõ.
* Các đặc điểm để nhận biết phôi đã bị  chết trong thời kỳ này là:
- Phôi không chuyển động khi soi nóng.
- Trứng có màu nâu sẫm do các mạch máu đã bị phá vỡ.
- Không còn nhìn thấy hình mạch máu hoặc hình mạch máu bị nhòa đi do bị vỡ.
Các trứng có phôi phát triển yếu ngoài đặc điểm màng niệu nang còn hở, còn gặp mạng mạch máu của nó mờ do các mạch máu nhỏ và ít máu.
Cần chú ý tiến hành kiểm tra sự phát triển của phôi lần 1 và lần 2 phải làm nhanh, sao cho thời gian trứng ở ngoài máy ấp ít nhất, để tránh sự mất nhiệt của trứng. Trứng để lâu bên ngoài máy mất nhiệt quá nhiều sẽ làm cho phôi phát triển chậm.
5.3. Soi trứng đánh giá sự phát triển của phôi sau 19 ngày ấp
Khi soi trứng có thể quan sát các diễn biến và kết thúc quá trình phát triển phôi trong giai đoạn 11-19 ngày ấp và biết được mức độ chuẩn bị của thai đổ mổ vỏ ra ngoài. Các quan sát này giúp ta đánh giá được chế độ ấp đã sử dụng và tương lai của các lô ấp tiếp theo còn đang trong máy ấp.
- Dấu hiệu đặc trưng của trứng đã chuẩn bị tốt để nở là khi soi đầu nhọn của trứng đã thấy tối sẫm hoàn toàn.
- Trứng phát triển tốt thì giai đoạn này buồng khí thường chiếm 1/3 thể tích trứng.
Khi soi đầu tròn của trứng còn thấy màng niệu nang chỗ tiếp giáp với buồng khí có màu tối sẫm, không còn sáng mờ hoặc có hình mạch máu. Phôi phát triển chậm hoặc yếu thì buồng khí nhỏ, màng niệu nang chỗ sát với buồng khí còn sáng nhiều, nhìn rất rõ các mạch máu còn đang căng.
- Khi soi trứng thấy rõ cổ của phôi nhô lên buồng khí, thể hiện phôi nằm đúng ngôi và chuẩn bị tốt để mổ vỏ.
 Khi soi trứng sau 19 ngày ấp có thể chia làm 4 loại theo mức độ phát triển khác nhau:
- Loại thứ nhất: khi soi thấy màng niệu nang gần buồng khí tối sẫm, đầu nhọn của trứng tối sẫm, buồng khí lớn, thấy rõ cổ gà ngọ nguậy bên trong. Đây là loại tốt nhất, gà sẽ nở tốt. Một lô trứng tốt, chế độ ấp phù hợp thì trứng loại này phải chiếm một tỷ lệ cao.
- Loại thứ hai: khi soi thấy màng niệu nang tiếp giáp với buồng khí và đầu nhọn của trứng đều tối sẫm nhưng cổ gà chưa nhô lên buồng khí, buồng khí nhỏ hơn loại thứ nhất. Đây là những trúng phát triển tương đối tốt, tuy nhiên gà sẽ nở chậm hơn bình thường.
- Loại thứ ba: khi soi thấy cổ của gà đã nhô lên buồng khí nhưng còn thấy sáng ở đầu nhọn của trứng. Có 2 khả năng:
+ Do gà con ở trong trứng dùng chân đạp nhô đầu và cổ lên buồng khí quá mạnh làm nhấc cả mình lên và tách khỏi đầu nhọn của trứng một ít. Vì thế khi soi thấy đầu nhọn sáng. Thực ra đây là trứng thuộc loại thứ nhất nhưng bắt đầu hơi sớm các hoạt động để mổ vỏ. Tỷ lệ nở của những trứng này cũng rất tốt.
+ Đầu nhọn của trứng khi soi còn thấy sáng do ở đó còn lòng trắng nhưng do một số lý do nhất định (ví dụ nhiệt độ cao kéo dài) những trứng này bắt đầu nở sớm. Thường những trứng này màng niệu nang chỗ tiếp giáp với buồng khí hãy còn sáng và còn thấy mạch máu đang hoạt động. Các trứng này có tỷ lệ chết phôi cao. Phần lớn trứng mổ vỏ rồi nằm đấy hoặc gà con nở ra có túi lòng đỏ nằm ngoài xoang bụng hoặc hở  rốn.
- Loại thứ tư: đầu nhọn của trứng khi soi còn sáng, cổ của phôi cũng chưa nhô lên buồng khí. Mép buồng khí còn một đường ranh giới thẳng và rất rõ. Thường ở phía dưới mép này vẫn còn quan sát thấy các mạch máu của màng niệu nang chưa bị teo đi, buồng khí nhỏ. Những trứng này nở rất kém, gà nở ra xấu và yếu. Đôi khi những trứng này không nở toàn bộ.

IV. PHÂN LOẠI GÀ MỚI NỞ
Gà con sau khi đã lấy ra khỏi máy nở, trước khi đưa vào hộp xuất đi phải chọn phân loại gà. Căn cứ vào các tiêu chuẩn sau để phân loại gà loại I và loại II
* Tiêu chuẩn gà loại I
- Chân đứng vững, thẳng, nhanh nhẹn, các ngón chân thẳng không cong vẹo.
- Mắt tròn, sáng.
- Lông đều, bông, khô sạch, màu lông đúng màu chuẩn của giống, dòng.
- Mỏ lành lặn không bị lệch vẹo, dị hình.
- Rốn khô và khép kín không bị viêm.
- Bụng thon mềm.
- Khối lượng phải đạt theo yêu cầu của từng giống, dòng gà.
Tất cả gà con không đạt một trong các tiêu chuẩn trên là gà loại II.
V. BAO GÓI VÀ VẬN CHUYỂN GÀ CON
1. Đóng hộp gà con
Gà con sau khi đã được phân loại, gà loại I nếu là gà ông bà, bố mẹ sẽ được chuyển sang phòng chọn trống mái; tiêm chủng Marek rồi mới đóng hộp để chờ xuất đi.
Hộp đựng gà con loại I để chuyển đi nơi khác là hộp giấy Carton có qui cách như sau:

- Hộp đựng 100 gà con phải có diện tích đáy tối thiểu là 3.000 cm2, có chiều cao tối thiểu là 12 cm; hộp được chia thành 4 ô, có vách ngăn để cho gà con khỏi dồn vào nhau, các vách ngăn còn làm cho hộp đựng gà cứng hơn.
- Các thành hộp và nắp hộp phải đục nhiều lỗ để đảm bảo thông thoáng cho gà con.
- Đáy hộp đựng gà có thể dải một lớp đệm lót bằng dăm bào, khô sạch hoặc giấy có khả năng thấm hút để hút ẩm và giữ cho gà con khỏi bị choãi chân.
2. Bảo quản gà con mới nở          
Gà con loại I sau khi đóng hộp, được chuyển ra nơi xuất gà hoặc được xếp ở phòng ra gà. Khi bê hộp gà một tay đỡ ở giữa đáy hộp để đáy hộp không bị trũng xuống, tránh cho gà con khỏi bị kẹp chân kẹp đầu vào vách ngăn mà chết.
Các hộp gà phải xếp sao cho có khoảng cách để đảm bảo độ thông thoáng. Tùy vào độ cứng của hộp mà xếp chồng lên nhau cao hay thấp, lưu ý tránh để bẹp các hộp ở dưới, các hộp nên xếp so le vói nhau
Gà con chưa xuất đi phải được để ở nơi thoáng mát vế mùa hè, ấm áp vế mùa đông, phải đảm bảo sao cho nhiệt độ bên trong hộp gà tốt nhất không vượt quá 37°C và không dưới 30°C.

3. Vận chuyển gà con
Trong thực tế sản xuất nếu vận chuyển gà con từ trạm ấp đến các khu chăn nuôi, tùy vào mức độ xa gần mà có các yêu cầu khác nhau: nếu khu chăn nuôi gần trạm ấp thì vận chuyển gà bằng bất cứ phương tiện nào và bất cứ lúc nào chỉ cần đảm bảo phương tiện được sát trùng sạch sẽ, các hộp gà con không bị nghiêng về một bên, không bị mưa ướt hoặc bị nắng nóng chiếu vào và có đủ độ thông thoáng. Nếu cần phải vận chuyển gà con đi xa thì cần phải có xe cơ giới, xe vận chuyển gà cần phải đảm bảo điều kiện sau:
- Xe phải được cọ rửa sạch sẽ, sát trùng cẩn thận trước khi xếp gà con lên.
- Xe có bộ phận giảm sóc tốt.
- Thùng xe phải có mui và thành bao quanh, mặt trước của thùng xe phải có cửa thông gió có thể điều chỉnh mức độ mở được.
- Sàn xe phải cách nhiệt tốt, sàn kín để tránh hơi nóng, nước, bụi từ gầm xe bốc lên. Nếu chở nhiều mà phải xếp cao thì cần có giá đỡ.
- Xe phải được kiểm tra kỹ về mặt kỹ thuật trước khi xếp gà lên, tránh hỏng hóc dọc đường.

* Vận chuyển
- Khi chuyển hộp gà từ dưới lên xe phải làm nhẹ nhàng cẩn thận, một tay đỡ đáy hộp một tay đỡ thành hộp, không để hộp gà bị nghiêng.
- Xếp các hộp gà lên xe phải đảm bảo khoảng cách để đủ thông thoáng cho gà con.
- Tùy vào độ cứng của hộp mà xếp cao hay thấp, xếp hộp trên so le với hộp dưới. Tuy nhiên không nên xếp cao quá 4 tầng vì khó thông thoáng và dễ bẹp hộp bên dưới.
- Khi vận chuyển vào mùa hè, tầng hộp cao nhất trên xe phải cách nóc xe ít nhất 50 cm để gà con khỏi bị nóng.
- Mùa hè nên vận chuyển gà con vào giờ mát mẻ, nếu phải vận chuyển đường dài thì tốt nhất nên chở vào ban đêm hoặc sáng sớm.
- Xe chở gà con tránh xuất phát đột ngột hoặc phanh gấp sẽ làm cho hộp gà bị xô vào nhau, gà ở bên trong hộp bị dồn có thể chết.
- Tránh dừng xe lâu một chỗ, nhất là trời nắng nóng.
- Không để mưa ướt hoặc gió lạnh thổi trực tiếp vào các hộp gà.

HƯỚNG DẪN LẬP KẾ HOẠCH BÀI GIẢNG
CHUYÊN ĐỀ 5: THỨC ĂN VÀ DINH DUỠNG
TT
Nội dung
Thời
lượng
Phương pháp
Phương tiện hỗ trợ/Vật tư thực hành
Câu hỏi gợi ý/ thảo luận
1
Khởi động
10’
Giới thiệu tập huấn viên và học viên


2
Giới thiệu nội dung  bài giảng
10'
Thuyết trình

Nêu định nghĩa về ấp nhân tạo và mục đích của ấp nhân tạo?
3
Vị trí xây dựng trạm ấp
30’
Thuyết trình + Động não
Máy chiếu; hình ảnh một trạm ấp
Yêu cấu cần thiết khi xây dựng trạm ấp?
4
Vệ sinh thú y trạm ấp
45’
Thuyết trình + Động não
Máy chiếu; Một số
hình ảnh về biện
pháp vệ sinh trạm ấp
- Vệ sinh thú y đối với người và phương tiện vận chuyển ra vào trạm ấp?
- Vê sinh máy ấp, máy nở?
5
Chọn trứng ấp, xông khử trùng và bảo quản trứng
45'
Thuyết trình + Động não
Máy chiếu; Một số hình ảnh về trứng giống, kho bảo quản trứng; Chuẩn bị một số quả trứng đủ tiêu chuẩn giống và không đủ tiêu chuẩn để minh họa.
- Kỹ thuật chọn trứng ấp theo ngoại hình?
- Các loại hóa chất dùng xông trứng?
- Nhiệt độ và thời gian bảo quản trứng thích hợp?
6
Chế độ ấp, nở
150’
Thuyết trình + Thảo luận nhóm
Chia lớp thành 4 nhóm, mỗi nhóm thảo luận và trình bày một câu hỏi. Sau đó các nhóm bổ sung, tập huấn viên nhận xét và tổng kết
Quan sát thực tế hoặc qua hình ảnh máy ấp, máy nở.
Máy chiếu; Giấy Ao, bút dạ, kẹp, bảng...
Chọn một cơ sở có máy ấp công nghiệp và một cơ sở có máy ấp bán công nghiệp cho học viên quan sát hoặc giới thiệu qua hình ảnh
- Chuẩn bị máy ấp, trứng ấp và cách xếp, đưa trứng vào máy (vào trứng)?
- Yêu cầu vé nhiệt độ, ẩm độ, đảo trứng khi ấp?
-Các yếu tố gây nhiệt độ cao trong máy và cách xử lý?
- Cách xử lý khi đang ấp bị mất điện?
Quan sát, phân biệt máy ấp công nghiệp và bán công nghiệp?
7
Kiểm tra sự phát triển của phôi trong quá trình ấp
70'
Thuyết trình + Động não
Máy chiếu, bút dạ, bảng
Dấu hiệu đặc trưng khi soi kiểm tra phôi lúc 6,11,19 ngày ấp?
8
Phân loại đóng gói, bảo quản và vận chuyển gà con
90’
Thuyết trình + thảo luận nhóm
Chia lớp thành 3 nhóm, mỗi nhóm thảo luận và trình bày một câu hỏi. Sau đó các nhóm bổ sung, tập huấn viên nhận xét và tổng kết
Chuẩn bị một số hình ảnh gà con loại 1, hộp đóng gà con, cách xếp gà con khi bảo quản và vận chuyển...
Câu hỏi:
- Tiêu chuẩn gà con loại I?
- Qui cách đóng hộp vá bảo quản gà con 1 ngày tuổi?
- Những yêu cầu cơ bản khi vận chuyển gà con?
9
Tổng kết bài giảng
30'
Tóm lược và nhấn mạnh nội dung:
- Vị trí xây dựng trạm ấp.
- Vệ sinh thú y trạm ấp.
- Chế độ ấp, nở.
- Phân loại, bảo quản và vận chuyển gà con.



CHUYÊN ĐỀ 6
AN TOÀN SINH HỌC TRONG CÁC CƠ SỞ CHĂN NUÔI GÀ

Mục tiêu
Sau khi kết thúc chuyên đề này học viên sẽ:
- Hiểu được an toàn sinh học và tầm quan trọng của nó trong các cơ sở chăn nuôi gà.
- Nắm được các biện pháp triển khai nhằm đảm bảo an toàn sinh học trong các cơ sở chăn nuôi gà.
Nội dung
- An toàn sinh học và tầm quan trọng của nó trong các cơ sở chăn nuôi gà
- Các nội dung chính an toàn sinh học trong các cơ sở chăn nuôi gà
+ Cách ly
+ Vệ sinh tiêu độc sát trùng
+ Giám sát sự di chuyển
+ Giám sát lịch phòng bệnh và sức khỏe đàn gà
+ Xử lý môi trường
Thời gian: 8 giờ

NỘI DUNG CHUYÊN Đ
I. AN TOÀN SINH HỌC VÀ TẦM QUAN TRỌNG CA NÓ TRONG CÁC SỞ CHĂN NUÔI GÀ
1. Khái quát tình hình chăn nuôi gia cầm Việt Nam
Chăn nuôi gia cầm ở Việt Nam đã có từ lâu đời và là nghề chăn nuôi truyền thống vừa tạo công ăn việc làm, tăng thêm thu nhập đồng thời tạo nguồn thực phẩm quý giá cho từng gia đình nông dân Việt Nam. Năm 2008, tổng đàn gia cầm đã lên tới 226 triệu con trong đó gà là 179 triệu và vịt là 47 triệu con. Tổng sản lượng thịt hàng năm khoảng 250.000 - 300.000 tấn và khoảng 2,5 - 3,5 tỷ quả trứng. Số lượng thịt, trứng bình quân trên đầu người hàng năm là 4,5 - 5,4 kg và 45 quả.
Chăn nuôi gia cầm ở nước ta hiện nay tồn tại 3 phương thức:
- Chăn nuôi nhỏ lẻ, chăn thả tự do chiếm khoảng 79%, loại hình này đầu tư ít, thức ăn chủ yếu tận dụng và con giống tự túc phần lớn nuôi trong các hộ dân. Bệnh dịch thường xảy ra và khó khống chế do ít chú ý đến vệ sinh phòng bệnh và an toàn sinh học.
- Chăn nuôi tập trung bán công nghiệp, chiếm khoảng 12%. Loại hình này kết hợp giữa giống địa phương và giống nhập nội nuôi nhốt hay bán chăn thả và dùng thức ăn công nghiệp, đã áp dụng các biện pháp vệ sinh thú y và tiêm phòng bệnh tuy vậy còn ít hiểu biết về an toàn sinh học.
- Chăn nuôi tập trung công nghiệp chiếm khoảng 9%. Loại hình này nuôi nhốt tập trung với số lượng lớn, dùng thức ăn công nghiệp với các loại giống có năng suất cao, thực hiện tương đối tốt các biện pháp phòng bệnh và an toàn sinh học.
2. Khái niệm
An toàn sinh học bắt nguồn từ 2 chữ BIO có nghĩa là sinh học và SECURITY có nghĩa là an toàn.
An toàn sinh học là việc áp dụng các biện pháp tổng hợp nhằm giảm bớt nguy cơ xuất hiện bệnh trong quá trình chăn nuôi và giảm thiểu sự phát tán mầm bệnh ra ngoài môi trường.
Để làm tốt công việc này trước hết chúng ta cần nắm vững các đường lây lan của mầm bệnh.
Trong chăn nuôi gia cầm khoảng 90% bệnh gia cầm lan truyền từ nơi này sang nơi khác là do con người, dụng cụ, thiết bị và phương tiện vận chuyển. Mầm bệnh có thể được lây lan qua giầy dép, quần áo, mũ, tóc và tay chân. Các cơ chế truyền bệnh sau đây đã được xác nhận: truyền bệnh trực tiếp, truyền bệnh gián tiếp. Ngoài yếu tố đường lây lan của mầm bệnh cần xác định được tính bền vững của mầm bênh và khả năng sống sót của mầm bệnh trong môi trường và cuối cùng hiểu được bệnh phát triển tùy thuộc ba lý do sau:
- Sức đề kháng của gà
- Độc lực của mầm bệnh
- Số lượng của mầm bệnh
Khi nắm vững thực chất của những vấn đề nêu trên thì việc thực hiện chương trình an toàn sinh học trong các cơ sở chăn nuôi gà tốt và có hiệu quả.

Phải thực hiện các biện pháp an toàn sinh học vì:
- Người tiêu dừng có nhu cầu cao hơn, sản phẩm có chất lượng và an toàn hơn.
- Những bệnh mới xuất hiện ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng (cúm gia cầm, bệnh bạch lỵ).
- Do chăn nuôi thâm canh nhiều bệnh cũ tiếp tục xuất hiện.
- Mật độ gia cầm tăng lên.
- Vận chuyển và thương mại nhiều hơn.
- Những quy định mới, tiêu chuẩn cao hơn.
- Các lý do kinh tế khác.

An toàn sinh học dựa trên các quy định sau:
- Các tiêu chuẩn quốc tế, WTO, ASEAN, EU.
- Các tiêu chuẩn quốc gia, ngành, công ty.
- Hệ thống cảnh báo sớm cúm gia cầm và bệnh Niu-cát-xơn.
- Các chương trình bảo hiểm chất lượng.

3. Tầm quan trọng của an toàn sinh học trong chăn nuôi gia cầm
Thực hiện các chương trình an toàn sinh học có hiệu quả là cần thiết để phòng bệnh và nâng cao hiệu quả của vốn đầu tư. Các cơ sở vật chất như nhà tắm thay quần áo, hệ thống cống rãnh, hàng rào, nhà thiêu xác và dụng cụ để sát trùng, nhà ấp trứng và chuồng gà là những ví dụ về các lĩnh vực cần đầu tư. Quyết định đầu tư vào các lĩnh vực đó để tăng cường an toàn sinh học là cơ sở để thu hồi vốn như đã định và có thể thu hồi sớm hơn.
An toàn sinh học tốt sẽ đảm bảo:
- Giữ cho gia cầm khỏe mạnh và có năng suất cao.
- Cải thiện thu nhập của người chăn nuôi.
- Cung cấp cho người tiêu dùng các sản phẩm chất lượng cao hơn.
- Ngành gia cầm có năng suất tốt hơn góp phần nâng cao tổng thu nhập quốc gia.
II. CÁC NỘI DUNG CHÍNH AN TOÀN SINH HỌC TRONG CÁC CƠ SỞ CHĂN NUÔI GÀ
1. Đối với các trại chăn nuôi tập trung công nghiệp
An toàn sinh học cho các cơ sở chăn nuôi gia cầm đồng nghĩa với việc thực hiện tốt các biện pháp vệ sinh thú y phát hiện sớm các nguy cơ nhằm ngăn chặn mầm bệnh xâm nhập và tiêu diệt mầm bệnh tồn tại trong cơ sở chăn nuôi, đảm bảo an toàn dịch bệnh. An toàn sinh học có thể áp dụng cho tất cả các loại hình chăn nuôi, từ các trại chăn nuôi vừa đến chăn nuôi tập trung công nghiệp. Hệ thống an toàn sinh học bao gồm các vấn đề có liên quan mật thiết với nhau như sau:
1.1. Cách ly
Là khoảng cách cần thiết giữa trại chăn nuôi gia cầm với khu dân cư, đường giao thông, chợ... khoảng cách giữa các chuồng nuôi, các khu chăn nuôi, trạm ấp, nhà chứa phân, bể tiêu huỷ. Hiện nay trong điều kiện dịch cúm gia cầm và bảo vệ an toàn môi trường thì địa điểm chăn nuôi phải nằm ngoài các khu đô thị, thành phố, thị xã và các khu công nghiệp...
a. Địa điểm
- Vị trí xây dựng chuồng trại phải ở nơi cao ráo, không bị ô nhiễm do bụi, khói thải, hóa chất độc hại từ môi trường xung quanh, không bị ngập lụt, có đủ nguồn điện, nước, thuận tiện đường giao thông và phù hợp với quy hoạch của  địa phương.
- Cách khu dân cư  tối thiểu  : 500m
- Cách chợ, nhà giết lúc: 3.000m
- Cách đường quốc lộ : 1.000 m
- Cách xa nguồn nước sinh hoạt.
b. Vành đai thú y bao gồm
- Hàng rào bao quanh trại được làm bằng gạch hoặc dây thép gai ngăn cách khu chăn nuôi với khu vực xung quanh, nhằm ngăn chặn sự xâm nhập của con người và động vật vào trại.

- Vành đai trắng: là khu vực xung quanh trại có bán kính 500m hoàn toàn
không có dân cư và không được nuôi gà.
- Vành đai an toàn: là khu vực xung quanh trại có bán kính 3.000 – 5000 m không có trại chăn nuôi lớn, gà nuôi trong khu vực này phải được tiêm phòng đầy đủ các loại vắc xin cần thiết.
c. Khu vực chăn nuôi
- Nuôi riêng biệt từng khu theo từng giai đoạn sản xuất
- Không được nuôi các loại gia cầm khác nhau trong trại

-  Không nuôi các động vật khác trong trại
- Thực hiện nguyên tắc chung : cùng nhập và cùng xuất
- Khu gà con và gà dò:
+ Chuồng cách chuồng: 30m
+ Cách khu chăn nuôi khác: 300m
- Khu gà sinh sản:
+ Chuồng cách chuồng: 30m.
+ Cách khu chăn nuôi khác: 300m.
- Khu tân đáo: là khu nuôi các đàn gà mới nhập để theo dõi trong thời gian 2 tuần.
- Khu trạm ấp: cách khu chăn nuôi tối thiểu 300m.
- Khu sinh hoạt: phải đặt ngoài hàng rào khu chăn nuôi.
1.2. Giám sát vệ sinh sát trùng
Bao gồm kiểm tra, giám sát vệ sinh, tiêu độc sát trùng: con người, phương tiện, dụng cụ, gia cầm, thức ăn, nước uống... nhằm ngăn chặn sự xâm nhập của mầm bệnh cũng như sự tồn tại của mầm bệnh trong cơ sở chăn nuôi.
a. Cổng ra vào trại
- Có cửa sắt bảo vệ.
- Hố khử trùng cho người ra vào phải có thuốc sát trùng và có mái che.
- Nhà khử trùng cho xe cơ giới: phải có mái che và hệ thống vòi phun thuốc sát trùng để có thể phun toàn bộ xe khi đi qua. Chiều dài ít nhất là 6 m để xe có thể lăn bánh trong hố sát trùng. Xe trước khi vào nhà khử trùng cần được rửa sạch.
 Trường hợp chưa có nhà khử trùng cho xe cơ giới, cần có máy phun để có thể phun được toàn bộ xe trước khi vào trại.
b. Nhà khử trùng thay quần áo
Được xây ngay gần cổng ra vào trại gồm hai phòng nam nữ riêng biệt. Tất cả mọi người ra vào trại phải đi qua khu vực này để khử trùng bao gồm:
- Phòng thay quần áo cá nhân
- Phòng khử trùng
- Phòng tắm
- Phòng thay quần áo, dày dép bảo hộ
Quần áo bảo hộ lao động và giày dép được giặt, phơi khô và xông thuốc sát trùng trước khi dùng.
c. Vệ sinh thức ăn
Nguồn thức ăn cho gia cầm khi nhập kho bảo quản phải đạt độ ẩm theo quy định 115
Thức ăn đảm bảo các tiêu chuản về chất lượng, vi sinh vật, nấm móc, kim loại nặng và độc tố theo 10 TCN (tiêu chuẩn ngành) 863 và 838 - 2006

.