Thứ Ba, ngày 16 tháng 4 năm 2013

Chăn nuôi bò thịt


CHĂN NUÔI BÒ THỊT

PHẦN MỘT. GIỐNG :

A.Giống địa phương :
1). Bò Vàng :
Còn gọi là bò Cỏ, bò Ta, bò Cóc. Có nguồn gốc du nhập rất lâu từ Trung Quốc, sau đó một số ít có lai tạp với các giống Zebu (bò u gốc Ấn độ, Pakistan). Bò Vàng có tầm vóc nhỏ, bò cái trưởng thành chỉ nặng khoảng 180 kg, con đực khoảng 250 kg. Khả năng cho sữa và tỉ lệ thịt xẻ rất thấp, tuy nhiên, bò địa phương có ưu điểm là thịt ngon và thích nghi rất tốt trong điều kiện nuôi dưỡng kham khổ, môi trường nóng ẩm.
2). Bò lai Sind :
Lai tạo từ bò Vàng với bò Sind (Red Sindhi) từ rất lâu, phần lớn đàn bò này tập trung ở vùng Đông Nam Bộ. Mục đích lai tạo ban đầu là nâng cao tầm vóc để sử dụng sức kéo. Bò lai Sind cho sữa và tỷ lệ thịt xẻ cao hơn bò Vàng, khả năng thích nghi phong thổ cũng rất tốt. Con cái trưởng thành nặng khoảng 350 kg, con đực khoảng 450 kg. Bò lai Sind thường có màu nâu nhạt đến sậm, u và yếm phát triển, tai to và cụp, phần ống chân và chóp đuôi thường có màu đen.
3). Bò lai Ongole :
Lai tạo từ bò Vàng với bò Ongole cũng với mục đích sử dụng như bò lai Sind. Hình vóc bò lai Ongole tương tự bò lai Sind nhưng có màu nâu xám từ đến đậm, thích nghi tốt nhưng sức kéo yếu hơn bò lai Sind.

B. Giống du nhập :
Hiện nay trên thế giới có rất nhiều giống bò chuyên thịt hoặc kiêm dụng thịt sữa cho năng suất rất cao ; tuy nhiên, hướng lựa chọn sử dụng phù hợp là các giống ít nhiều có nguồn gốc vùng nhiệt đới để thích nghi với khí hậu nóng ẩm. Các giống bò được lựa chọn theo hướng nầy bao gồm :
1). Red Sindhi : (thường gọi là bò Sind)
Có nguồn gốc từ vùng Sind của Pakistan. Bò Red Sindhi có màu lông đỏ (đỏ cánh dán), trán gồ, u vai cao, yếm rộng và có nhiều nếp nhăn. Con đực trưởng thành nặng 500 - 550 kg ; con cái nặng 350 - 400 kg. Lượng sữa một chu kỳ (305 ngày) từ 1.400 – 1.500 kg, tỷ lệ thịt xẻ đạt khoảng 50%.
2). Sahiwal :
Có nguồn gốc từ Ấn Độ. Bò Sahiwal có màu lông nâu đỏ, nâu vàng hoặc vàng đỏ, ngoại hình tương tự bò Sind, tầm vóc và khả năng cho sữa cao hơn một ít so với bò Sind ; tuy nhiên, khả năng thích nghi có kém hơn.
3). Ongole :
Có nguồn gốc từ Ấn Độ. Bò Ongole cũng có hình dạng tương tự Red Sindhi và Sahiwal, chỉ khác là màu lông xám trắng và bộ chân cao hơn. Con đực trưởng thành nặng 500 - 550 kg ; con cái nặng 350 - 400 kg. Khả năng cho sữa và tăng trọng tương đương với Red Sindhi và Sahiwal.
4). Brahman :
Được lai tạo ở Mỹ từ giống vùng ôn đới và giống vùng nhiệt đới. Bò Brahman có 2 dòng : dòng trắng có màu lông xám trắng hoặc xám tro và dòng đỏ có màu lông vàng đỏ. Do có một phần đặc điểm di truyền giống bò nhiệt đới nên bò Brahman có khả năng thích nghi khá tốt với điều kiện khí hậunóng ẩm. Sức tăng trọng và tỷ lệ thịt xẻ khá cao. Con đực trưởng thành nặng 600 - 700 kg ; con  cái nặng 450 – 550kg.
5). Droughtmaster :
            Được lai tạo ở Úc từ khá nhiều giống : Brahman, Santa Gertrudis, Hereford, Devon, Shorthorn và Red Poll. Trong đó, có đặc điểm di truyền bò Brahman vốn trước đó được lai tạo từ giống bò vùng nhiệt đới nên bò Droughtmaster cũng thích nghi khá tốt với khí hậu nước ta. Đồng thời, có đuwocj nhiều ưu điểm di truyền của các giống bò  thịt cao sản khác nên sức tăng trọng, tỉ lệ thịt xẻ và chất lượng thịt đều rất tốt. Con đực trưởng thành nặng 650 – 750 kg, con cái nặng  450 – 550kg.
6). Một số giống có triển vọng khác :
            Ngoài các giống kể trên, hiện nay còn có nguồn tinh các giống bò có nguồn gốc ôn đới như Charolais, Simmental, Limousin … năng suất và phẩm chất thịt đều tốt nên có thể dùng lai tạo với đàn bò nền Lai Sind ; tuy nhiên, con lai có khả năng thích nghi giới hạn, cần điều kiện chăm sóc chu đáo, chế độ dinh dưỡng cao.

II. CHỌN GIỐNG :
1). Định hướng ứng dụng :
Mục tiêu cải thiện chất lượng giống bò thịt hiện nay ở nước ta có thể chia làm 2 hướng : Ở nơi còn nuôi bò Vàng địa phương nên lai tạo bước đầu với bò Sind, Sahiwal bằng phương pháp gieo tinh nhân tạo hoặc phối trực tiếp để tạo con lai F1 cải thiện tầm vóc và sức sản xuất (chương trình Sind hóa). Ở nơi đã có bò Lai Sind, Lai Sahiwal có thể cho gieo tinh giống bò Sind, Sahiwal hoặc bò Brahman, Droughtmaster. Nếu con lai là bê đực thì nuôi thịt rất có hiệu quả, còn nếu là bê cái thì chọn lọc con tốt giữ lại nuôi sinh sản và tiếp tục cho lai với bò Brahman, Droughtmaster.
Riêng với các giống Charolais, Simmental, Limousin có thể lai với bò lai Sind nhưng cần có điều kiện đầu tư nuôi dưỡng đầy đủ.
2). Chọn bò cái làm giống :
Chọn bò cái nền cần dựa theo các tiêu chuẩn sau :
+ Nguồn gốc : Cần nắm rõ chủng loại giống để xác định cách chăn nuôi phù hợp cũng như chọn giống dòng đực để phối sau nầy. Nếu biết được lai lịch chi tiết của bò cha, mẹ càng tốt để có thể biết rõ thêm đặc tính giống và các ưu điểm, nhược điểm tăng trưởng, sinh sản của bò cha, mẹ.
+ Ngoại hình : Đối với bò nuôi thịt không yêu cầu quan sát ngoại hình nghiêm ngặt như nuôi bò sữa ; tuy nhiên, khi chọn bò cái làm giống theo hướng nuôi thịt hay kiêm dụng thịt sữa cũng cần chọn bò đạt tương đối các tiêu chuẩn sau : Bò có phần đầu thanh, cổ nhỏ và dài vừa phải, miệng lớn, lưng rộng và không võng, phần thân sau phát triển hơn phần trước, mông nở, ít dốc xuống, lồng ngực to và sâu, da mỏng, lông mịn, bốn chân cứng cáp và thẳng, hai chân sau không choải ra cũng không chụm vào, không chạm kheo, bộ móng ngắn và đều. Nên chọn bò có bầu vú to, nở và mềm (vú da), ngược lại không nên chọn bò có bầu vú cứng, da dày, kém đàn hồi (vú thịt) ; bốn núm vú to vừa phải và đều, không quá dài hay quá ngắn, không có núm tắt ; hai thùy vú sau to hơn hai thùy trước. Tĩnh mạch bụng to và dài, tĩnh mạch vú nổi rõ và nhiều.
Tập quán nuôu bò ở nước ta thường quan tâm nhiều ; tuy nhiên, cần xem đây là các yếu tố không quan trọng vì không liên quan đến năng suất, sức sinh sản của bò.
+ Sức tăng trưởng, sản xuất : Khi mua hay tuyển lại bò đang nuôi, nên chọn những con bò cho sữa tốt, ổn định và kéo dài, tính tình hiền lành, dễ vắt sữa, tạp ăn, ít bệnh, lên giống đều đặn, rõ và có khả năng đậu thai cao.
Khi chọn bò hậu bị cần đánh giá thể trạng phát triển hài hoà kết hợp với tốc độ tăng trưởng tốt, như bò Vàng 1 năm tuổi cần đạt trọng lượng tối thiểu là 100 kg, còn bò Lai Sind là 160 kg.
3). Chọn nguồn nọc giống :
Trường hợp cho phủ nọc trực tiếp, cần chọn bò đực có nguồn gốc giống rõ ràng, thể trạng khỏe mạnh, không mắc bệnh và tốt hơn nữa là theo dõi đánh giá các bê con được sinh sản từ bò nọc giống nầy. Trường hợp cho gieo tinh nhân tạo cũng cần chọn nơi cung cấp tinh giống đáng tin cậy, có nguồn gốc giống rõ ràng và phù hợp với mục đích lai tạo.

III. PHỐI GIỐNG : 
Độ tuổi thành thục sinh dục và lên giống (động dục) lần đầu của bò cái tơ trong thực tế biến động khá lớn do phụ thuộc nhiều vào điều kiện nuôi dưỡng và đặc điểm giống ; có thể thật sớm vào lúc chỉ 9 tháng tuổi hoặc trể đến 24 tháng tuổi. Tuy nhiên, dù sớm hay trễ thì nguyên tắc chung là nên bỏ qua 1 – 2 lần lên giống đầu và chỉ nên phối giống cho bò trên 16 tháng tuổi, đồng thời bò có thể trạng phát triển tốt (không quá mập cũng không quá ốm). Như bò lai Sind cần đạt trọng lượng tối thiểu là 200 - 220 kg thì việc phối giống, mang thai và đẻ con sau này mới tốt.
Chu kỳ lên giống ở bò trung bình là 21 ngày (dao động từ 18 - 23 ngày phụ thuộc vào giống, điều kiện nuôi dưỡng, khí hậu ... ) ; nếu nuôi dưỡng quá kém có thể bò không lên giống hoặc lên giống không đều, không rõ.
Thời gian lên giống của bò thường kéo dài trong 1 - 2 ngày với các biểu hiện khởi đầu là giảm ăn, âm hộ nở, hơi đỏ, có dịch nhờn chảy ra đóng thành vệt và dễ phát hiện vào ban đêm khi bò nằm, đối với bò đang cho sữa nuôi con có biều hiện giảm tiết sữa trong ngày lên giống. Tuy nhiên, ngay khi vừa lên giống với các hiện tượng như trên chưa phải là thời điểm thích hợp để phối giống mà cần chờ đến lúc dịch nhờn ở âm hộ chảy ra đặc quánh lại thành dây, âm hộ sưng đỏ nhiều hơn thì lúc này cho phối là thích hợp nhất. Thông thường, dấu hiệu nầy xuất hiện từ 18 - 36 giờ sau khi bắt đầu lên giống. Trong khoảng thời gian nầy có thể phối cho bò tơ sớm hơn bò rạ và nếu có điều kiện nên phối 2 lần : lần đầu vào chiều ngày hôm trước và sáng ngày hôm sau hoặc sáng – chiều trong cùng ngày để có khả năng đậu thai cao hơn. Nếu để trôi qua thời gian nầy, âm hộ bò đã teo lại thì không nên phối vì đã muộn, khả năng đậu thai thấp. Do vậy, cần theo dõi chu kỳ lên giống để dự kiến ngày bò lên giống nhằm chủ động chuẩn bị.
____________________________________________________________________________________________________

PHẦN HAI. DINH DƯỠNG - THỨC ĂN :

A. Thành phần dinh dưỡng – thức ăn :
Nhu cầu dinh dưỡng của bò cũng như các loại vật nuôi khác gồm rất nhiều chất ; có loại cần nhiều có loại cần ít ; nhưng yêu cầu chung là đầy đủ và cân đối. Nguồn dinh dưỡng cho bò được cấp qua thức ăn và một số chất bổ sung pha, trộn thêm trong nước uống, thức ăn hoặc tiêm. Có thể phân chia các loại thức ăn theo chức năng dinh dưỡng cho bò như sau :
1). Thức ăn chứa nhiều xơ (hay gọi là thức ăn thô) :
Bao gồm các loại cỏ, rơm, thân đậu, thân lá bắp, đọt mía, dây lang, rau muống, các loại rau, củ, quả ... Đây là thành phần thức ăn căn bản cho bò do dựa vào đặc điểm tiêu hóa riêng của loài nhai lại có khả năng chuyển hóa thức ăn xơ nhờ hệ vi sinh vật trong hệ thống tiêu hoá. Do đó, có thể cho bò ăn tự do hoặc nếu có định lượng thì phải bảo đảm tỷ lệ thức ăn thô chiếm tối thiểu 60% nhu cầu chất khô trong khẩu phần.
Có thể ước tính nhu cầu thức ăn thô trong khẩu phần theo trọng lượng bò như sau :
+ Cỏ xanh : cần khối lượng bằng 8 – 10% trọng lượng bò.
+ Rơm khô : cần khối lượng bằng khoảng 1% trọng lượng bò.
2). Thức ăn chứa nhiều chất bột đường :
Bao gồm các loại cám, các loại hạt ngũ cốc, hèm bia, khoai mì, khoai lang,… ; số lượng sử dụng chiếm khoảng 20% - 30% nhu cầu chất khô trong khẩu phần. Loại thức ăn này cung cấp bổ sung năng lượng, tích lũy mỡ, duy trì khả năng cho sữa cao và ổn định. Trong các trường hợp nuôi thiếu thức ăn thô và sử dụng quá nhiều thức ăn có chứa chất bột đường thì bò tăng trọng kém do mất cân bằng hệ thống các loại vi sinh vật trong dạ cỏ của bò ; đồng thời còn dễ dẫn đến các bệnh ở chân, móng (như bệnh bầm tím móng).
3). Thức ăn chứa nhiều đạm :
Bao gồm các loại bột cá, đậu nành, bánh dầu phộng, bánh dầu dừa, bánh dầu đậu nàh … Do bò có khả năng chuyển hóa tạo chất đạm từ nguồn thức ăn xơ nên nhu cầu cung cấp thức ăn chứa nhiều đạm cho bò so với các loại vật nuôi khác thường ít hơn. Nếu thiếu đạm bò tăng trưởng chậm, lên giống trễ và không ổn định, sức đề kháng kém, năng suất và chất lượng sữa đều giảm.
4). Nhóm thức ăn bổ sung :
Cung cấp các chất sinh tố (vitamin), khoáng, men, một số axít amin, axít-béo. Các yếu tố dinh dưỡng này ít nhiều thường thiếu trong các loại thức ăn thông thường. Các chất này tuy chiếm tỷ lệ rất thấp trong khẩu phần cho bò (chỉ khoảng 3% - 5% trong khẩu phần) nhưng không thể thiếu do có chức năng tham gia chuyển hóa các thành phần dinh dưỡng khác, giúp cân bằng các hoạt động sinh trưởng, sản xuất và duy trì, tăng cường sức đề kháng cho bò.
Các loại thức ăn bổ sung thường dùng như bột vỏ sò, bột xương để cung cấp các chất khoáng can-xi (vôi), phốtpho (lân) ; muối ăn (NaCl), các chế phẩm hỗn hợp vitamin, khoáng, a-xít a-min ...(gọi chung là prémix) dùng trộn trong thức ăn, pha nước uống hoặc như khối đá liếm cung cấp bổ sung các chất khoáng.

B. Chế biến thức ăn :
            Về mặt kỹ thuật và hiệu quả kinh tế thì đối với bò thức ăn thô là loại thức ăn chính cần thiết hơn so với thức ăn tinh (gồm các loại thức ăn chứa nhiều chất bột đường, đạm ...) Tuy nhiên, vẫn cần phải cung cấp thức ăn tinh thường xuyên, đầy đủ trong khẩu phần.
1). Chế biến thức ăn tinh :
            Có nhiều cách sử dụng thức ăn tinh ; tuy nhiên, cần chọn các loại thức ăn tinh dễ tìm, giá rẻ khi tự pha trộn. Một sô cách pha trộn có thể tham khảo như sau :
+ Khẩu phần 1 :
Thành phần pha trộn
Tỷ lệ pha trộn (%)
Cám gạo, tấm, bắp
30
Khoai mì lát
40
Bánh dầu
20
Rỉ mật
5
Bột xương, vỏ sò
3
Muối ăn
0,5 - 1
Premix vitamin, khoáng
1 - 1,5
           
+ Khẩu phần 2 :
Thành phần pha trộn
Tỷ lệ pha trộn (%)
Bắp xay
20
Cám và bã khoai mì 
40
Bánh dầu, hèm bia
25
Mật đường 
10
Bột xương, vỏ sò
3
Muối ăn
0,5 - 1
Premix vitamin, khoáng
1 - 1,5
           
Trong trường hợp sử dụng dạng thức ăn công nghiệp hỗn hợp toàn phần hoặc thức ăn đậm đặc thì nếu có điều kiện nên cho ăn thêm “bánh dinh dưỡng” tự chế để cấp thêm cho bò năng lượng, các chất khoáng, vitamin. Thành phần làm bánh dinh dưỡng có thể thay đổi ít nhiều tùy theo nguồn nguyên liệu; có thể tham khảo công thức như sau :

Thành phần pha trộn
Tỷ lệ pha trộn (%)
Mật đường
30 – 40
Urê
3 – 10
Xi- măng
5 – 10
Hỗn hợp khoáng (premix)
1 – 3
Cám gạo
30 – 40
Vôi
5 – 10
Muối ăn
1 - 3
Cách pha chế bánh dinh dưỡng được thực hiện theo trình tự thao tác như sau :
+ Trộn urê với rỉ mật và khuấy thật kỹ để urê tan hoàn toàn;
+ Trộn tiếp và đều các phần vôi, xi – măng, muối, hỗn hợp khoáng;
+ Cho cám vào thau hoặc chảo lớn, rồi đổ hỗn hợp vừa trộn kể trên vào hòa đều cho đến khi thành dạng dẻo mịn;
+ Cho hỗn hợp đã trộn vào khuôn ép (khuôn có thể làm bằng gỗ hoặc bằng sắt, nhựa để tạo thành khối), mỗi khuôn có dung tích từ 3 – 5 kg là phù hợp;
+ Để bánh dinh dưỡng trong khuôn 1 – 2 ngày, sau đó đổ ra và có thể đem cho bò ăn ngay. Nếu sản xuất nhiều, cần giữ ở nơi khô ráo để sử dụng lâu dài (thường có thể giữ khoảng 3 tháng).
+ Lưu ý không cho bê dưới 6 tháng sử dụng bánh dinh dưỡng để tránh các trường hợp có thể ngộ độc.
Trong điều kiện chăn nuôi quy mô lớn, thiếu lao động không thể mua từng loại thực liệu để tự trộn thức ăn thì nên sử dụng thức ăn tinh đã chế biến đóng bao sẳn ; các loại thức ăn này tuy chi phí có cao hơn nhưng chất lượng tốt, ổn định, dễ bảo quản và tiện lợi sử dụng. Tuy nhiên cần lưu ý chọn đúng loại dành nuôi bò hướng thịt, không nên dùng thức ăn của bò sữa hay các loại vật nuôi khác.
Về định lượng thức ăn tinh trong khẩu phần trước tiên cần đảm bảo cung cấp đủ thức ăn thô ; kế đến có thể ước lượng thức ăn tinh mỗi ngày bằng khoảng 1-1,5% trọng lượng của bò. Trong đó, bò thịt ở gia đoạn nuôi thúc (vỗ béo) và bò đang cho sữa cần lượng thức ăn tinh cao hơn bò ở các lứa tuổi, giai đoạn khác. Lưu ý thức ăn tinh các loại đều nên cho ăn khô, không nên hòa nước.
2). Chế biến thức ăn thô :
Cỏ, rơm có thể dùng cho ăn trực tiếp không qua chế biến ; tuy nhiên, cần lưu ý không nên cho ăn cỏ, rơm quá ướt vì lượng nước nhiều làm cho bò no sớm nhưng chưa đủ lượng thức ăn khô và có thể gây khó tiêu, chướng hơi dạ cỏ. Tốt nhất là cỏ mới cắt về cho phơi nhẹ rồi mới cho ăn. Ngoài ra, các loại cỏ thân cứng như cỏ voi, lông tây … cần cắt ngắn từng đoạn 10-15 cm để bò dễ ăn hơn, nếu có điều kiện băm giập thì càng tốt.
Có thể tăng giá trị dinh dưỡng của cỏ, rơm bằng cách chế biến như sau :
+ Ủ rơm với urê :
Nhằm lợi dụng hệ vi sinh vật trong dạ cỏ bò chuyển hóa thành phần nitơ (N) trong urê trở thành nguồn đạm dinh dưỡng cho bò ; đồng thời, quá trình ủ còn làm rơm mềm giúp bò dễ tiêu hoá hơn. Có thể ủ rơm trong hộc ủ bằng xi-măng, gỗ, tre lót kín vải nhựa ở các thành và đáy, hoặc có thể dùng túi vải nhựa để ủ. Thông thường với thể tích hộc 1m x 2m x1,3m có thể ủ được 200 kg rơm khô với tỷ lệ thực liệu gồm : 100 kg rơm khô tưới 100 lít nước pha với 4 kg urê (ủ rơm urê 4%). Nếu rơm ướt thì giảm lượng nước còn khoảng 70 lít.
Trình tự ủ rơm như sau :
+ Lần lượt cân 10 kg rơm rải đều vào hộc hoặc bao vải nhựa; pha 400 gram urê trong thùng tưới với 10 lít nước rồi tưới đều lên rơm. Sau đó, dùng chân giậm nén rơm càng chặt càng tốt, nhất là ở 4 góc hộc, hố.
+ Tuần tự thực hiện lớp rơm thứ 2, thứ 3 cũng với tỷ lệ rơm, nước, urê như lớp rơm đầu tiên và cũng giậm nén từng tự, tiếp tục cho đến khi đủ 100 kg rơm.
+ Dùng vải nhựa phủ và ém kín trên mặt ; 7 –10 ngày sau có thể cho bò ăn.
Khi thấy trên rơm có một lớp mốc trắng, rơm có màu vàng hơi sậm thì đó là bình thường, nhưng nếu có mốc xanh, xám đen thì phải hủy bỏ. Sau mỗ lần lấy rơm cho bò ăn cần nhớ đậy kỹ hố ủ lại ngay. Do rơm ủ urê có mùi khai (khí amoniac) nên thường ở lần  đầu bò ăn ít hoặc không chịu ăn ; Vì vây, tập cho bò ăn từ  ít đến nhiều trong khoảng 3 - 5 ngày. Sau đó bò sẽ quen và rất thích ăn. Lưu ý không nên cho bê dưới 6 tháng ăn rơm ủ urê vì có thể gây ngộ độc.
+ Ủ cỏ chua :
          Là cách trữ cỏ bằng cách ủ chua trong môi trường yếm khí nhẹ (môi trường kín, không có không khí). Cỏ voi và các  loại cỏ thân cứng khác thích hợp để ủ chua hơn các loại cỏ mềm.
Cách làm hố ủ tương tự như ủ rơm với urê, hố ủ có thể làm trên nền đất và lót vải nhựa phần đáy và thành hố ; hố ủ có kích thước 1,2 m x 1,6 m và sâu khoảng 1 m đủ để ủ 1 - 1,2 tấn cỏ. Để có được một mẻ cỏ ủ tốt cần phơi cỏ hơi héo trước khi ủ; bổ sung thêm muối 1 – 2% muối để tránh cỏ bị quá chua.
Trình tự thực hiện như sau :
+ Lót một lớp rơm dầy khoảng 10 cm ở phần đáy hố ;
+ Cỏ được cắt ngắn từng đoạn 10 – 15 cm, cho vào hố thành từng lớp dầy 20 – 30 cm (cứ một lớp cỏ rải đều một lớp muối mỏng), rồi đầm nén thật chặt, chú ý đầm nén kỹ ở 4 góc, cứ thế tiếp tục sang các lớp kế tiếp (mỗi lớp đều đầm nén kỹ) cho đến khi lớp cỏ chất cao vượt mặt hố khoảng 30 cm.
|+ Phủ lên mặt cỏ một lớp vải nhựa rồi lấp tiếp lên trên mặt vải nhựa nầy một lớp đất mỏng. Cần làm mái che mưa để tránh nước thấm vào.
+ Sau khoảng 10 - 15 ngày, có thể sử dụng.
+ Khi rút cỏ cần lấy lần lượt từ đầu này sang đầu kia và từ trên xuống dưới. Lưu ý hạn chế mở rộng miệng hố và khi rút cỏ xong thì đậy miệng hố lại ngay để tránh không khí xâm nhập vào quá nhiều có thể làm hư cỏ (cỏ bị thâm màu).
+ Cỏ ủ tốt thường có màu vàng xanh như dưa cải, có mùi thơm dễ chịu, vị không đắng, không chua gắt; không có nấm mốc. Nếu ủ không kín hoặc quá ẩm thì cỏ có mùi hôi, màu sậm, đóng nhớt ; nên huỷ bỏ mẻ ủ này.
            + Đá liếm :
Nhu cầu dinh dưỡng của bò ở tất cả các giai đoạn tăng trưởng đều cần có đầy đủ các chất khoáng; kể cả cho nhu cầu của vi sinh vật trong dạ dày của bò. Trong đó, các chất khoáng vi lượng như : đồng, sắt, kẽm, cô-ban, ma-nhê, man-găng, sê-len… thường thiếu hoặc không cân đối. Do đó, cần cung cấp thường xuyên cho bò các chất khoáng này mà biện pháp tiện lợi nhất là sử dụng đá liếm.
Đá liếm có thể tự chế bằng cách đùn ép bằng khuôn như bánh dinh dưỡng để tạo thành khối cứng gồm các thành phần : vôi, xi – măng, đất sét, bột xương… và treo trong chuồng (ngang tầm miệng bò) để bò tự liếm. Tuy nhiên, hiện nay đã có bán các loại đá liếm sản xuất công nghiệp được pha trộn đầy đủ, cân đối các chất khoáng theo nhu cầu của bò ở các lứa tuổi, giai đoạn tăng trưởng, sinh sản nên tốt hơn cách pha tự chế.

C. TRỒNG CỎ :
            Hiện nay có rất nhiều loại cỏ dùng chăn nuôi bò và với đặc điểm chăn nuôi bò không có đồng cỏ chăn thả mà chủ yếu là cắt cỏ chuyển về cho ăn tại chuồng nên trước tiên việc chọn loại cỏ trồng cần thích hợp theo cách nuôi này. Các loại cỏ thích hợp trồng cắt cỏ : cỏ voi, VA 06, cỏ tím, cỏ bắp nước (mồm mỡ), cỏ ruzi, cỏ lông tây, cỏ sả, cỏ vôi ... Tuỳ theo loại cỏ, nếu trồng thâm canh 1 ha thì đủ nuôi 25 – 30 bò. Tuy nhiên, việc thu hoạch cỏ sẽ không đồng đều trong năm do phần lớn các vùng đất trồng còn phụ thuộc vào nguồn nước tưới theo mùa mưa, mùa khô ; do đó, ở nơi nuôi quy mô lớn cần chủ động dự trữ cỏ khô cho các tháng nắng thiếu cỏ tươi.
            Cách trồng một số loại cỏ phổ biến như sau :
            1). Cỏ Voi :
Thuộc loài cỏ thảo, thân cứng có lóng, sinh trưởng rất mạnh nên cho năng suất cao. Cỏ voi thích hợp cho ăn tươi hoặc ủ, phù hợp chân đất cao ráo nhưng chịu hạn kém và không chịu ngập úng. Cỏ Voi có nhiều gốc giống được tuyển chọn, lai tạo với một số giống cỏ khác để nâng cao năng suất ; trong đó có giống cỏ VA 06 hiện nay đang có xu hướng phát triển rộng do dễ trồng và có năng suất cao.
Cỏ Voi hoặc cỏ VA 06 có thể trồng quanh năm nếu có điều kiện tưới. Thông thường, vụ chính là trồng vào đầu mùa mưa.
Đất trồng được cày sâu 20-25 cm, bừa kỹ, san phẳng và dọn sạch cỏ dại. Chủ yếu trồng bằng hom và đặt theo hàng có độ sâu từ 15-20 cm, hàng cách hàng 60 x 60 cm.
Bình quân lượng phân cần bón cho một ha trong một năm là : 15-20 tấn phân chuồng hoai mục + 250-300 kg súp-pe lân + 150-200 kg kali + 450-500 kg urê . Lượng phân có thể gia giảm tùy theo chân ruộng tốt xấu. Toàn bộ phân chuồng dùng bón lót sau khi rạch hàng. Các loại phân khác được chia đều cho các đợt bón thúc và sau mỗi lần cắt.
Hom trồng được chọn từ thân cỏ có độ tuổi 60-80 ngày trồng. Hom được chặt vát với độ dài 30-35 cm để có được 3 mắt mầm. Mỗi ha cần khoảng 8-10 tấn hom. Hom được đặt theo lòng rãnh và gối đầu nhau ; sau đó lấp kín hom ở  độ sâu 6-10 cm. Thông thường sau 10-15 ngày trồng, mầm cỏ bắt đầu nhú lên khỏi mặt đất. Vào thời điểm nầy có thể xác định nơi cần trồng dặm kết hợp với làm sạch cỏ dại. Khi cỏ được 20-25 ngày, bón thúc khoảng 100 kg urê/ha. Đến 60 ngày có thể cắt thu đợt đầu và quan sát khi cỏ tái sinh lá mới thì tiếp tục bón thúc lân, urê, kali.
Nếu chăm sóc tốt và bón phân đầy đủ thì cách khoảng 45 ngày có thể cắt thu ; bình quân thu được 30-35 tấn/ha/đợt, cỏ VA 06 trồng thâm canh có thể thu 45- 50 tấn/ha/đợt ; một năm có thể có 7-8 đợt thu hoạch và thu trong 2-3 năm. Khi cắt cần chừa phần gốc cao khoảng 5 cm và cắt sạch không sót lại cây mầm để đợt sau cỏ mọc đều.
2). Cỏ Bắp Nước :
Còn gọi là cỏ Mồm Mỡ, thuộc họ hòa bản, đa niên. Trong tự nhiên, thường kết thành bè trôi nổi trên mặt nước, các đốt có rể, thân xốp. Lá hẹp, dài, nhọn. Tái sinh bằng hạt và các đoạn thân ; khả năng tái sinh rất mạnh. Thích hợp đất ngập nước liên tục như ruộng bưng biền và có thể trồng dọc theo ao, kênh ...  Có thể trồng quanh năm với điều kiện đất ẩm ướt nhiều, phù hợp chân đất trũng.
Đất trồng cần bừa và dọn sạch cỏ dại, hom cỏ trồng chỉ cần đặt chạm đất và đặt theo hàng (25 x 25 cm).
Nhu cầu phân bón bình quân cho một ha trong cả năm là : 10-15 tấn phân chuồng hoai mục + 200-250 kg súp-pe lân + 100-150 kg kali + 350-400 kg urê. Lượng phân gia giảm tùy theo chân ruộng tốt xấu. Cách bón tương tự như cỏ Lông.
Hom trồng được chọn từ thân cỏ có độ tuổi trên 2 tháng. Hom được cắt thành đoạn dài 30-40 cm hoặc để nguyên cả thân. Nhu cầu giống cần 3-5 tấn/ha.
Sau khi trồng được 20-25 ngày, có thể bón thúc urê và sau 55 - 60 ngày có thể cắt thu đợt đầu ; sau đó bón thúc lân, urê, kali. Nếu bón phân đầy đủ thì cách khoảng 50-60 ngày có thể cắt thu ; một năm có thể có 6 đợt thu hoạch và kéo dài trong nhiều năm. Khi cắt chừa lại gốc cao khoảng 5 –10 cm.
            3). Cỏ Ruzi :
Thuộc loại cỏ thân bụi, sinh trưởng mạnh vào mùa mưa và cần nhiều nắng, năng suất khá cao. Thích hợp làm đồng cỏ chăn thả, thu cắt ăn tươi và đóng bánh cỏ khô dự trữ.
Cỏ Ruzi có thể trồng quanh năm nếu có điều kiện tưới. Thông thường, vụ chính là trồng vào đầu mùa mưa.
Đất trồng cần được cày sâu 20-25 cm, nếu trồng bằng bụi thì cần bừa kỹ, san phẳng, dọn sạch cỏ dại, rồi làm hàng trồng cách khoảng 50 x 50 cm. Nếu trồng bằng hạt có thể rạch hàng cạn 5-8 cm, hàng cách hàng 40 x 40 cm. Hoặc gieo trên liếp đến khi cây được 15-20 ngày tuổi nhổ cây con đem cấy.
Bình quân lượng phân cần bón cho một ha trong cả năm là : 15-20 tấn phân chuồng ủ hoai + 200-250 kg súp-pe lân + 100-150 kg kali + 450-500 kg urê. Trong đó, toàn bộ phân chuồng dùng bón lót sau khi rạch hàng. Các loại phân khác được chia đều cho các đợt bón thúc và sau mỗi lần cắt.
Nếu trồng bằng hạt thì cần lượng giống từ 10-15kg/ha khi gieo theo hàng và chỉ cần 5-6 kg nếu ương trên liếp sau đó nhổ cấy. Nếu trồng bằng bụi thì cần 3-4 tấn/ha. Nên chọn cách trồng bằng bụi để tiết kiệm hơn. Bụi hom được đặt theo từng cụm 3-4 buội cách nhau khoảng 15-20 cm và dựa vào thành rãnh có góc xiên khoảng 40 độ với lòng rãnh. Sau đó, lấp đất kín 2/3, chừa lại 1/3 trên mặt đất và giậm nhẹ để tránh khô bụi cỏ mới trồng. Sau 10-15 ngày kiểm tra và trồng giậm.
Sau khi trồng được 15-20 ngày thì nhổ cỏ dại và bón thúc. Đến 50-60 ngày tuổi có thể cắt thu đợt đầu, các đợt thu sau cách khoảng 45 – 50 ngày. Năng suất mỗi đợt bình quân có thể đạt 20-25 tấn/ha.
             4). Cỏ Lông :
Thuộc họ hòa bản, đa niên, thân cứng, bò ngang hoặc đứng ở phần trên, lá nhám hẹp và dài. Tái sinh bằng hạt hoặc phần thân bò, khả năng tái sinh rất mạnh. Thích hợp đất ẩm, chịu phèn khá. Có thể trồng quanh năm, thích hợp trồng vào đầu mùa mưa, phù hợp chân đất trũng, đất ven bờ kênh mương. Các loại cỏ Cá (cỏ Pát), cỏ Sông Chằng, cỏ Tín hiệu (cỏ Signal) cũng là các loại cỏ thích hợp trên vùng đất nghèo dinh dưỡng, chua phèn như cỏ Lông.
Đất trồng chỉ cần bừa, dọn sạch cỏ dại, hom đặt sâu độ 5-10 cm và theo hàng (25 x 25 cm) ; tuy nhiên, khi xuống giống đất cần thật ẩm.
Nhu cầu phân bón bình quân cho một ha trong cả năm là : 10-15 tấn phân chuồng hoai mục + 200-250 kg súp-pe lân + 100-150 kg kali + 350-400 kg urê. Lượng phân gia giảm tùy theo chân ruộng tốt xấu. Cách bón phân tương tự như các loại cỏ nêu trên.
Chọn hom trồng từ thân cỏ có độ tuổi trên 2 tháng. Hom được cắt thành đoạn dài 30-40 cm hoặc để nguyên cả thân cỏ. Chỉ cần lấp hom sơ qua sau khi đặt. Nhu cầu giống cần 3-5 tấn/ha.
Sau khi trồng được 20-25 ngày, bón thúc urê và sau 60 ngày có thể cắt thu đợt đầu ; sau đó bón thúc lân, urê, kali. Nếu bón phân đầy đủ thì cách khoảng 45 – 50 ngày có thể cắt thu ; một năm có thể có 6 - 7 đợt thu hoạch. Khi cắt chừa lại gốc cao khoảng 5 –10 cm để mau tái sinh.
5). Cỏ Sả :
Thuộc loài cỏ thảo, thân bụi, sinh trưởng mạnh, năng suất khá cao. Có hai loại : cỏ sả lá lớn và lá nhỏ ; loại lá lớn cho sinh khối cao (200-250 tấn/ha/năm), thích hợp cho ăn tươi hoặc ủ ; loại lá nhỏ năng suất thấp hơn (180-200 kg/ha/năm) nhưng chịu hạn, bóng râm và chịu dẩm đạp tốt hơn. Cỏ sả dễ trồng nhưng không chịu ngập úng. Cỏ Sả có thể trồng quanh năm nếu có điều kiện tưới. Thông thường, vụ chính là trồng vào đầu mùa mưa.
Đất trồng được cày sâu 20-25 cm, bừa kỹ, san phẳng và dọn sạch cỏ dại. Nếu gieo hạt thì đất cần được xử lý thật tơi xốp, gieo đều theo hàng và lấp qua một lớp đất mỏng. Nếu trồng bằng bụi thì đặt theo hàng có độ sâu từ 5-10 cm, hàng cách hàng 40 x 40 cm. Đặt các cụm giống cách nhau khoảng 40 cm và dựa vào thành rãnh, ngã về cùng một phía và thẳng góc với lòng rãnh. Sau đó, lấp đất kín phân nửa độ dài thân giống. Lượng phân cho một ha trong một năm và cách bón tương tự như cỏ Ruzi. 
Nếu trồng bằng hạt thì cần lượng giống từ 5-6 kg/ha, nếu trồng bằng bụi thì cần 5-6 tấn/ha ; bụi cỏ dùng làm giống được cắt bỏ phần lá ngọn, chừa phần gốc còn lại khoảng 25-30 cm, giũ sạch đất bám rễ và cắt bỏ các phần rễ già ; các bụi trồng cần có 3-4 nhánh tươi.
Sau khi trồng 15 ngày, thân mầm xanh sẽ mọc. Khi đó, có thể xác định nơi cần trồng dặm và kết hợp làm sạch cỏ dại rồi bón thúc. Đến 45 ngày tuổi có thể cắt thu đợt đầu, các đợt thu sau cách khoảng 35 – 40 ngày, cắt chừa phần gốc khoảng 6-10 cm. Năng suất mỗi đợt bình quân có thể đạt 20 - 25 tấn/ha.
___________________________________________________________________________________________________

PHẦN BA. CHĂM SÓC :

1). Giai đoạn bò mang thai :
Thông thường, sau khi phối giống mà không có hiện tượng động dục trở lại ở chu kỳ sau thì bò đã đậu thai. Thời gian mang thai trung bình của bò cái là 280 ngày (dao động từ 277 - 283 ngày)
Trong 7 tháng đầu mang thai thì ngoài phần thức ăn thô (cỏ, rơm ...) luôn cho ăn đầy đủ thì nên bổ sung thêm khoảng 1, 5 – 2 kg thức ăn tinh hỗn hợp (có tỷ lệ đạm 16-17%) mỗi ngày tùy theo trọng lượng. Từ tháng thứ 8 trở đi, tăng dần thức ăn tinh lên khoảng 2,5 - 3 kg/ngày. Đến tuần cuối trước khi đẻ thì giảm dần trở lại. Trong quá trình tăng giảm thức ăn tinh cần thực hiện chuyển dần, không đổi đột ngột ; đồng thời không nên thay đổi loại thức ăn nhằm tránh gây rối loạn tiêu hóa. Giai đoạn này bò cần nhiều các chất khoáng như vôi (Ca), lân (P), măng-gan (Mg), đồng (Cu), cô-ban (Co), sê-len (Se) ; do đó, chú ý tăng tỷ lệ bột vỏ sò, bột xương trong thức ăn tinh và sử dụng các chế phẩm premix pha trong thức ăn, nước uống hoặc treo đá liếm trong chuồng.
Thường xuyên tắm chải bò, 2 tháng trước khi sanh nên xoa bóp bầu vú hàng ngày để giúp bò quen dần với cảm giác bú sữa của bê sau này hoặc khi có vắt sữa. Vào lúc trời nắng nóng, có thể tắm 1 lần/ngày, còn mùa lạnh thì 1 - 2 ngày mới tắm một lần.
Bò gần đến ngày đẻ cần nhốt riêng nơi yên tĩnh, tránh va chạm. Dự kiến thời gian bò đẻ để chuẩn bị đầy đủ dụng cụ, phương tiện cần thiết.
2). Giai đoạn bò đẻ :
Bò sắp đẻ có biểu hiện quần ổ như cắn rơm, cắn chuồng, đứng lên nằm xuống không yên hay quay đầu về phần thân sau, tiêu tiểu nhiều lần nhưng lượng phân, nước tiểu rất ít, bầu vú căng và 4 núm vú căng bóng, mông sụp, âm hộ nở, dịch nhờn chảy ra đặc sánh.
Khi nước ối đã vỡ thì 15 đến 30 phút sau bò đẻ. Trường hợp bò đẻ bình thường thì sẽ thấy 2 chân trước của bê con sẽ ra trước rồi đến phần miệng. Thời gian trung bình bò đẻ không quá 1 giờ. Sau đó từ 3 - 6 giờ thì nhau ra ; khi đó, có thể bơm rửa và dùng viên đặt tử cung để phòng ngừa nhiễm trùng âm đạo. Nếu bò đã vỡ ối trên 1 giờ và có biểu hiện rặn nhiều mà vẫn chưa đẻ được hoặc đã đẻ nhưng quá 12 giờ vẫn chưa thấy nhau ra thì cần liên hệ thú y viên để can thiệp.
Sau khi bò đẻ, cần cho uống nhiều nước, tốt nhất là pha nước ấm với một ít đường và muối. Nên cho ăn thức ăn dạng sệt để dễ tiêu.
Tiếp tục theo dõi thật kỹ tình trạng sức khỏe của bò mẹ ; nếu có sốt hoặc có dịch chảy ra ở âm hộ có mùi hôi, kéo dài thì có khả năng nhiễm trùng tử cung cần điều trị tức thời. Thường sau khi đẻ, bầu vú còn cứng, vắt sữa còn nặng tay, sau 5 - 7 ngày bầu vú mềm dễ vắt hơn ; do vậy, cần thường xuyên lau bầu vú bằng nước ấm, sạch để giúp vú mau mềm hơn và ngăn ngừa sưng viêm vú và gây nhiễm trùng sữa có hại cho bê.
3). Bò nuôi con :     
Ngay sau khi đẻ, lượng sữa chưa nhiều do bò mất sức nên sẽ ăn ít và giảm trọng. Sau tuần lễ đầu lượng sữa tăng dần và đạt mức cao nhất vào lúc 4 - 6 tuần ; sau đó thì giảm dần trở lại. Do vậy, thời kỳ này cần cho bò mẹ ăn thật đầy đủ.
Nếu nuôi dưỡng tốt, bò mẹ thường lên giống lại lúc 2 - 3 tháng sau khi đẻ ; tuy nhiên, nên phối giống lúc 3 - 4 tháng sau khi đẻ để thể trạng bò phục hồi đầy đủ.
4). Bê sơ sinh đến cai sữa :
Bê mới đẻ cần dùng khăn sạch móc nhớt bên trong mũi, miệng và lau khô toàn thân. Sau đó, vuốt dây rốn ngược về phía bụng rồi dùng chỉ cột rốn cách gốc khoảng 10 cm, cắt rốn và sát trùng bằng cồn i-ốt. Kế đến, đưa bê vào ổ rơm đặt nơi kín gió. Khoảng 15 - 30 phút sau bê đã có thể đứng được thì cho bú ngay sữa đầu vì sữa đầu có hàm lượng dinh dưỡng rất cao và có kháng thể phòng bệnh. Chú ý giữ ấm, sạch để tránh các bệnh viêm phổi, tiêu chảy, ký sinh trùng thường dễ xảy ra cho bê.
Bê độ 2 - 3 tuần tuổi có thể cho tập ăn. Lúc đầu cho bê liếm láp thức ăn tinh có chất lượng tốt (có khoảng 16-18% đạm) cùng với một ít cỏ non phơi khô (nên dùng cỏ chỉ, cỏ ruzi). Khi bê ăn được khoảng 200 gram mỗi ngày thì giảm dần số cử bú để bê thiếu sữa sẽ phải ăn thức ăn nhiều hơn. Tập ăn sớm sẽ thúc đẩy hệ tiêu hóa của bê phát triển để cai sữa vào độ 2, 5 - 3 tháng tuổi.
Bê sau khi cai sữa có thể cho ăn thức ăn thô tự do kết hợp với khoảng 0,5 kg thức ăn tinh mỗi ngày rồi sau đó tăng dần lên theo thể trọng của bê. Trong trường hợp chọn bê để lại làm giống, cần tránh nuôi quá mập vì có thể làm giảm sức phát triển mô tiết sữa ở bầu vú sau, sau này sẽ cho sữa không tốt và các ảnh hưởng xấu đến khả năng động dục và đậu thai.
5). Nuôi thịt :
Bê đực hoặc bê cái không chọn làm giống thì chuyển sang nuôi thịt. Thông thường nuôi thịt đến độ 20 - 24 tháng tuổi là thời điểm bán thịt thích hợp. Nếu bán sớm hơn sẽ không hiệu quả vì bê vẫn còn đang trong giai đoạn tăng trưởng mạnh, còn nếu trễ hơn thì lúc này tốc độ tăng trưởng chậm lại mà tiêu tốn thức ăn lại cao.
Trong suốt giai đoạn nuôi thịt cần cung cấp đầy đủ và ổn định thức ăn thô, thức ăn. Trước khi bán thịt khoảng 2 tháng, cần tăng thêm lượng thức ăn tinh (vỗ béo).
Trong quá trình nuôi, ngoài việc đánh giá chung thể trạng bò (mập, gầy) cần định kỳ ước tính trọng lượng bò để điều chỉnh thức ăn (như thay đổi thức ăn thô, tăng thức ăn tinh, chất bổ sung …). Trong chăn nuôi thường tính trọng lượng bằng các cách đo :
+ Cách 1 : Dùng thước dây thông thường đo vòng ngực và dài thân chéo của bò rồi ước tính trọng lượng theo công thức sau :
Trọng lượng bò (kg) = Vòng ngực x vòng ngực (mét) x dài thân chéo (mét) x 87,5
+ Cách 2 : Dùng loại thức dây chuyên dùng đo vòng ngực bò quy đổi trọng lượng tương ứng được ghi sẳn trên thước ; cách này tiện dụng và chuẩn xác hơn cách 1.
__________________________________________________________________________________________

PHẦN BỐN. CHUỒNG TRẠI VÀ DỤNG CỤ CHĂN NUÔI :

Nguyên tắc chung về bố trí và xây dựng chuồng trại trong chăn nuôi là : tiếp nhận được nhiều ánh nắng mặt trời vào buổi sáng - tránh mưa tạt, gió lùa - thông thoáng - sạch - khô ráo và đủ rộng cho bò vận động (nhất là trong trường hợp nuôi nhốt).
Các yêu cầu nầy cần thực hiện thật chặt chẽ trong trường hợp nuôi bò lai với các giống bò có nguồn gốc ôn đới vì các giống bò này thường thích nghi hơi kém với môi trường nóng, ẩm hay lúc thời tiết thay đổi đột ngột.
Ở nơi có diện tích rộng thì nên làm thêm sân chăn thả thông với chuồng nuôi để giúp bò vận động và giảm dơ bẩn trong chuồng. Nếu không có điều kiện thì cũng nên cho bò ra ngoài chuồng tự do đi lại ở nơi có bóng mát mỗi ngày khoảng 2 - 4 giờ.
Diện tích chuồng cho một bò cái khoảng 6 m2 ; bê dưới 6 tháng tuổi khoảng 1,5 m2 ; bê trên 7 tháng khoảng 2, 5 m2. Mái chuồng nên cao khoảng 3 m để thông thoáng và giảm nóng. Nền chuồng làm bằng xi – măng và có độ nhám vừa phải để tránh trơn trợt và thuận tiện làm vệ sinh, nền chuồng có độ dốc (2-3%) về phía mương thoát nước. Tùy theo điều kiện đất và quy mô đàn nuôi, có thể làm kiểu chuồng 2 dãy rộng 10 –12 m với 1 hành lang chăm sóc ở giữa hoặc 1 dãy rộng 6,5 – 7m với 1 hành lang chăm sóc ở một phía.
Máng ăn có thể đóng bằng gỗ, tre hoặc xây gạch riêng từng ngăn cho mỗi con ; kích thước thông thường mỗi máng là : 0,9m x 0,7m x 0,6m. Máng uống có kích thước nhỏ hơn : 0,7 m x 0,7 m x 0,6 m. Lưu ý phần đáy của máng ăn và máng uống cần cao hơn nền chuồng (khoảng10 cm). Duy trì việc vệ sinh máng ăn, máng uống thường xuyên mỗi 1-2 ngày.
Nên làm hố ủ phân hoặc ủ khí sinh học (biogas) để hạn chế ô nhiễm môi trường, diệt mầm ký sinh trùng trong phân, tạo thêm nguồn khí đốt tại chổ hoặc dùng phân nuôi trùn quế.
____________________________________________________________________________________________

PHẦN NĂM. PHÒNG TRỊ MỘT SỐ BỆNH THƯỜNG GẶP

1). Tụ huyết trùng (Toi) :
Bệnh gây ra bởi một loại vi khuẩn. Thông thường bệnh dễ bộc phát trong môi trường chăn nuôi dơ bẩn, ẩm thấp, lạnh và nuôi dưỡng kém. Bệnh thường xuất hiện ở bê trên 6 tháng tuổi và phát rất nhanh ; ở thể nặng thì chỉ trong 1 - 2 ngày có thể gây chết. Bò mắc bệnh có triệu chứng sốt, mệt mỏi, bỏ ăn, không nhai lại, bụng đầy hơi, niêm mạc ở mắt, mũi bị tụ huyết, chảy nhiều nước bọt, phần hầu đau do sưng hạch hầu, thở khó, nuốt khó, thỉnh thoảng ho. Lúc đầu bò đi phân bón, sau đó chuyển sang tiêu chảy lẫn máu, nước tiểu vàng sậm và có thể có máu. Giai đoạn cuối, bò chết trong tình trạng run rẩy, ngã vật, chân co giật, mắt trợn ngược, bụng trướng to.
Bệnh tích điển hình là tim, phổi, gan, ruột, thận đều sưng, tụ máu, màng bụng tích nước vàng, có từng mảng xuất huyết dưới da.
Tuy có thuốc kháng sinh đặc trị bệnh nhưng thực tế vẫn có giới hạn do bệnh tụ huyết trùng phát nhanh, người nuôi chậm phát hiện và còn hay kèm theo các bệnh kế phát. Do đó, cần chủ động phòng bệnh bằng cách vệ sinh, sát trùng chuồng trại định kỳ, bảo đảm thức ăn, nước uống luôn sạch và kết hợp chủng vắc-xin định kỳ 2 lần trong năm, lần đầu cho bê lúc 6 tháng tuổi, còn bò cái mang thai thì nên tiêm trong giai đoạn từ tháng thứ 5 – 8 ; sau đó, cứ cách khoảng 5 – 6 tháng tiêm trở lại.
Khi phát hiện bò bệnh, có thể tiêm các loại kháng sinh như Gentamycin, Terramycin, Septotryl, Sulfamerazin, Enro-Gentacol, Genta-Tylosin ... kết hợp với Eucalyptus, Camphora ... trợ hô hấp ; Parcethamol, Analgin để hạ sốt và vitamin B complex C giúp tăng sức chống chịu. Trường hợp bò có biểu hiện chướng hơi dạ cỏ thì cùng lúc chữa triệu chứng này.
2). Lở mồm long móng (FMD) :
Nguyên nhân gây bệnh do một loại siêu vi khuẩn (virus). Bò bệnh có triệu chứng mệt mõi, bỏ ăn, lông dựng, sốt, miệng khô, lưỡi dày và khó cử động. Trong miệng, nướu, môi, lưỡi mọc các mụn nước cỡ như hạt bắp, 1 - 2 ngày sau thì các mụn này vỡ ra tạo thành vết loét làm bò đau, không ăn được, chảy nhiều nước bọt như xà-bông. Ở các kẽ móng chân cũng xuất hiện các mụn nước rồi rộp lên, bong ra và dễ bị nhiễm trùng có mủ, lở loét làm móng chân, đế chân sưng đau không đứng được, trường hợp nặng làm long móng, sút móng. Ở bò cái, mụn nước có thể xuất hiện ở bầu vú, núm vú và cũng gây ra các vết loét tương tự.
Do siêu vi khuẩn gây bênh nên không có thuốc điều trị ; việc dùng thuốc kháng sinh hay sát trùng ở các vết loét chỉ là ngăn ngừa nhiễm trùng kế phát. Vì vây, biện pháp duy nhất là chủ động phòng bệnh bằng cách tiêm vắc-xin kết hợp với cách chăn nuôi an toàn sinh học. Vắc-xin được tiêm lần đầu cho bê lúc 4 tháng tuổi, còn bò cái mang thai thì nên chủng trong giai đoạn từ tháng thứ 3 – 8. Đây là loại bệnh truyền nhiễm nguy hiểm, lây lan rất nhanh ; do đó, khi nghi ngờ bò mắc bệnh cần báo ngay cho cơ quan thú y gần nhất để được hướng dẫn cách xử lý.
3). Bê tiêu phân trắng :
Do nhiễm giun đũa. Bê từ 15 – 90 ngày tuổi rất dễ nhiễm và có biểu hiện chung là lừ đừ, đầu hay cúi xuống do đau bụng, lưng cong, đuôi cụp, bụng ỏng, lông xù, chảy nước mắt có ghèn, nằm nhiều, biếng theo mẹ. Ban đầu đi phân bón lổn nhổn màu đen rồi dần dần chuyển sang màu vàng sẫm, mùi rất tanh, giai đoạn cuối chuyển sang phân trắng và rất lỏng.
Do nguyên nhân là ký sinh trùng tồn tại trong môi trường chăn nuôi ; do vậy, cần giữ chuồng trại, cũi nhốt bê thật sạch sẽ, không để bê uống nước bẩn. Kế đến, tẩy giun (thường dùng piperazin) cho bê định kỳ một lần mỗi tháng trong suốt 3 tháng tuổi đầu. Trường hợp nhiễm nặng có thể trị bằng các loại thuốc Ivermectin, Tetramisol, Dectomax, Trime-Doxine, Hexachcloretan ...
4). Chướng hơi dạ cỏ :
Do bò ăn quá nhiều cỏ mốc, cỏ họ đậu, cỏ quá ướt hay  khi cho uống nước quá lạnh và ăn các loại thức ăn kém chất lượng. Bệnh thường xuất hiện vào mùa mưa khi bò đang ăn rơm khô chuyển sang ăn nhiều cỏ tươi hoặc do thay đổi thức ăn đột ngột. Ngoài ra, trường hợp bò bị bệnh tụ huyết trùng, viêm phổi hay thể trạng suy nhược kéo dài cũng dễ bị chướng hơi.
Biểu hiện ban đầu của chướng hơi là bò biếng ăn, không nhai lại, bụng bên trái căng to dần lên do thức ăn lên men sinh hơi nhưng bò không thể ợ thoát hơi vì nhu động dạ cỏ yếu hoặc bọt khí lấp kín lỗ thượng vị, bò đứng lên nằm xuống rất khó chịu, thở khó do phổi, tim bị chèn ép và nếu kéo dài sẽ chết trong tình trạng ngạt thở.
Từ các nguyên nhân gây chướng hơi kể trên nên trước tiên người nuôi, cần có chế độ nuôi dưỡng ổn định, chặt chẽ khi sử dụng thức ăn thô, thức ăn tinh, nước uống, không nên chăn thả ăn cỏ tự nhiên, nhất là lúc sáng sớm. Đồng thời, thường xuyên theo dõi để phát hiện sớm. Ở giai đoạn đầu hoặc khi bị nhẹ thì cho bò đứng trên nền dốc để phần thân trước cao hơn phần thân sau, lấy nùi rơm hoặc giẻ bọc muối rang xát mạnh liên tục vào 2 bên sườn và bụng ; nhất là ở phần hông bên trái cho đến lúc bụng xẹp dần.. Kinh nghiệm dân gian dùng lá tía tô (một nắm lớn) giã nát + 50 gram muối ăn, vắt lấy nước rồi hòa với 50 cc nước đun sôi để nguội cho bò uống có tác dụng rất tốt. Có thể cho uống thuốc tiêu mặn (thuốc muối) pha 20 – 40 gram (khoảng 1 – 2 muỗng canh) vào 100 ml nước sôi để nguội rồi cho bò uống 2 lần/ngày hoặc cho uống bia 250 – 500 ml/con.
Nếu bệnh nặng (bụng chướng quá to và có dấu hiệu ngạt thở) thì phải dùng ống Trocart (trô-ca) hoặc ống trúc nhỏ cắt vát nhọn để thông hơi trực tiếp. Dùng dao lam cạo một phần lông bên lõm hông trái bò, sát trùng và dùng dao rạch một đường nhỏ rồi đâm xuyên ống thông vào dạ cỏ khoảng 5 -10 cm, cố định ống thông và rút lõi của ống trocart ra từ từ (hoặc hé dần lổ thoát trong trường hợp dùng ống tre vát nhọn) cho hơi thoát ra dần rồi mới mở rộng (để tránh gây sốc do áp lực hơi đột ngột thoát ra quá lớn). Sau đó cố định ống thông để hơi tiếp tục thoát và khi hơi đã yếu vẫn tiếp tục để ống thông trong khoảng 1 buổi rồi mới dừng. Sau cùng, sát trùng nơi thông ống bằng thuốc mỡ kháng sinh.
Trong thời gian điều trị và sau đó vài ngày chỉ nên cho bò ăn cháo gạo, cháo cám có thêm  ít muối và để bò ở nơi thoáng mát, khô sạch.
5). Viêm tử cung :
Do nhiễm các loại tạp khuẩn lúc phối giống hoặc trong quá trình sinh đẻ, sót nhau, viêm âm đạo … Trong điều kiện chuồng trại ẩm thấp, dơ bẩn hoặc thao tác, dụng cụ đở đẻ không vệ sinh dễ dẫn đến viêm tử cung.  
Bò bị viêm tử cung có biểu hiện mệt mỏi, bồn chồn, nếu nặng gây sốt khá cao, bò hay quay đầu về phía sau và rặn nhiều đến cong lưng, âm hộ sưng đỏ, chảy dịch nhầy trắng vàng, tanh càng lúc càng nhiều và có thể lẫn mủ, máu.
Trước tiên cần ngăn ngừa bằng việc thực hiện chế độ vệ sinh thật chặt chẽ trong chuồng trại, trong khi gieo tinh và các khâu đở đẻ. Sau khi nhau ra nên đặt thuốc kháng sinh dạng viên như Aureomycin, Bio- Vagilox... liều lượng 2 viên/lần/ngày liên tục trong 3 ngày. Nếu bò bị viêm thì bơm rửa tử cung bằng thuốc tím 0,1% hoặc nước muối 0,9%  1 - 2 lít /ngày trong suốt 3 - 4 ngày hoặc bằng Rivanol 1% mỗi ngày một lần với lượng nước pha là ½ lít.
Sau mỗi lần bơm rửa đợi cho nước rửa chảy ra hết (bò rặn) rồi mới bơm các loại kháng sinh như Kana- Ampi hoặc Terramycin vào tử cung liên tục 3 - 4 ngày. Tùy theo tình trạng có sốt hay không để tiêm thêm thuốc kháng sinh và thuốc giảm sốt.
6). Sót nhau :
Thường gặp ở bò ốm yếu, ít vận động, đẻ sớm hoặc do đã có viêm tử cung hay đẻ khó ở các lần sanh trước. Do đó, nhằm hạn chế bò bị sót nhau, trước tiên cần có chế độ dinh dưỡng đầy đủ, cho bò đang mang thai có điều kiện vận động đều đặn hàng ngày.
Khi sót nhau nhiều hay ít đều có hiện tượng bò kém ăn sau khi đẻ, cho sữa ít và khi đã nhiễm trùng thì dẫn tới viêm tử cung. Bò sau khi sinh 12 giờ mà vẫn chưa tống nhau ra hết thì phải can thiệp. Nếu sót nhiều cần mời thú y viên để bóc nhau, nếu chỉ sót một ít thì có thể tiêm Oxytocin hỗ trợ tử cung co bóp để tống nhau ra và dùng biện pháp bơm rửa nước muối, thuốc tím, kháng sinh như cách phòng trị viêm tử cung để ngăn ngừa nhiễm trùng.
7). Viêm vú :
Do chuồng trại dơ bẩn, vệ sinh bầu vú trước và sau khi vắt sữa không tốt, hoặc núm vú hay bầu vú bị xây xát dẫn đến nhiễm các loại tạp khuẩn và cũng có thể do kế phát từ viêm tử cung, viêm âm đạo.
Có thể chia viêm vú làm 2 thể chính : viêm cấp tính và tiềm ẩn. Viêm cấp tính có triệu chứng dễ phát hiện như bầu vú sưng nóng đỏ, bò phản ứng đau khi vắt sữa, sữa bị lợn cợn, có thể lẫn máu hoặc mủ tùy theo thể nhiễm trùng. Viêm vú tiềm ẩn thì khó phát hiện bên ngoài mà chỉ có thể kiểm tra qua sữa. Do đó, bò đang nuôi con, cho sữa bình thường vẫn nên kiểm tra định kỳ viêm vú tiềm ẩn bằng các phương pháp giấy quỳ, CMT … (các phương pháp này rất dễ thực hiện vì chẩn đoán độ biến màu và trạng thái lý tính của sữa khi gặp thuốc thử) ; để phát hiện sớm vú hoặc thùy vú nào có viêm và điều trị.
Viêm vú nếu không phát hiện và xử lý sớm sẽ rất khó điều trị ; do đó, phải chủ động ngăn ngừa trước hoặc phát hiện thật sớm vì có ảnh hưởng rất lớn đến sản lượng, chất lượng sữa và sức khoẻ của bê. Trên hết cần thực hiện chế độ vệ sinh chặt chẽ ở chuồng trại và vệ sinh cho bò, người vắt sữa, dụng cụ vắt sữa ở tất cả các giai đoạn trước, trong và sau vắt sữa. Ngoài ra, khi bò bị sót nhau, viêm tử cung phải điều trị sớm và dứt vì các trường hợp này rất dễ sinh tiếp viêm vú.
Khi phát hiện bò bị viêm vú ; nếu nhẹ có thể dùng các loại thuốc kháng sinh được sản xuất ở các dạng bơm trực tiếp vào vú qua núm vú như Mastijet-Fort, Super Mastikort, Mastvex-1, Bio-Neomas, Bio-Tetramas … Khi bị viêm nặng thì ngoài việc sử dụng kháng sinh như trên, cần tiêm thêm các loại kháng sinh như : Ampicilline, Kanamycin, Sulfamerazin, Gentamycin, Tobramycine, Enrofloxacine, Codexin ... Trong quá trình xử lý kháng sinh nên kết hợp dùng các loại thuốc trợ sức và bổ sung vitamin để tăng sức đề kháng cho bò.
8). Bệnh bại liệt trước và sau khi sinh :
            Do bò mẹ điều tiết nhiều chất vôi (can-xi) cho bào thai phát triển nên dễ dẫn đến tình trạng hàm lượng can-xi của bò mẹ bị thiếu và gây ra yếu xương ; đặc biệt bệnh dễ xảy ra trên các giống bò sữa, bò thịt cao sản. Do đó, cần ngăn ngừa trước bằng việc bổ sung đều dặn bột vỏ sò, bột xương trong khẩu phần thức ăn tinh kết hợp với treo đá liếm thường xuyên trong chuồng và pha, trộn bổ sung trong thức ăn, nước uống các loại premix chứa nhiều can-xi và vitamin D (vitamin D giúp chuyển hoá can-xi) như Vetophos, Vitacalcium, Bio-Tricalci Fort, Calgophost, Vetophost ... Khi bò có hiện tượng bại liệt thì cũng dùng các chế phẩm kể trên để trị ; nếu nặng thì phải cấp Gluconat Calci qua đường truyền mạch.
9). Ngộ độc thức ăn :
            Một số loại thức ăn có chứa các chất hại cho bò ; vì thế nếu cho ăn nhiều và thường xuyên có thể gây ngộ độc như trường hợp khoai mì chưa phơi khô hay cho ăn thức ăn có nhiều cao lương, vỏ khoai tây, khô dầu bông vải hoặc thức ăn nhiễm nấm mốc đều có thể gây ngộ độc kéo dài.
            Tình trạng ngộ độc dạng cấp tính thường gặp khi bò ăn phải cỏ có thuốc sát trùng, thuốc trừ cỏ dại hoặc ăn quá nhiều cỏ bình linh,...Bò ngộ độc cấp tính có biểu hiện run rẩy, co giật, sùi bọt mép, nhịp tim, nhịp thở tăng nhanh, rối loạn và có thể chết rất nhanh. Trường hợp ngộ độc kéo dài (mãn tính) thì làm bò suy yếu dần, giảm sức đề kháng, thoái hoá gan, sẩy thai...
            Cách phòng ngừa tốt nhất là luôn sử dụng ăn chất lượng tốt, các loại thực liệu có khả năng gây độc cần được xử lý nhiệt kỹ và sử dụng với tỷ lệ thấp. Không nên chăn thả bò ăn cỏ tự nhiên ở những nơi nghi ngờ có thể nhiễm thuốc hoặc có cây cỏ lạ; tốt nhất là nên dành diện tích trồng cỏ để cung cấp thức ăn xanh an toàn./.          
 Nguồn: Trung tâm Khuyến nông Long An